Sức khỏe [ Đăng ngày (25/05/2024) ]
Đánh giá kết quả điều trị imatinib trên bệnh nhân u mô đệm đường tiêu hóa (GISTS) tại Bệnh viện K
U mô đệm đường tiêu hóa - Gastrointestinal Stromal Tumors (GISTs) là khối u trung mô của đường tiêu hóa có nguồn gốc từ tế bào ở thành ống tiêu hóa hay tế bào Cajal. Bệnh chiếm khoảng 0,2% các bệnh lý đường tiêu hóa và 1-2% các u ác tính đường tiêu hóa.

Ảnh minh họa

Khoảng 75-80% GIST có đột  biến  en KIT và  khoảng  8-10%  còn  lại có đột biến yếu  tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu alpha (PDGFRA). Hiện tại, imatinib là điều trị đầu  tay tiêu chuẩn với các bệnh nhân GIST tiến triển/ di căn. Trước năm 2001, không có phương pháp điều trị toàn thân nào hiệu quả đối với GISTs. Tuy nhiên, mối liên quan  giữa tín hiệu KIT cũng như tín hiệu của yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu  alpha  (PDGFRA) và sự phát sinh GISTs được chứng minh. Từ đó, imatinib – một thuốc ức chế tyrosine kinase đường uống có hoạt tính ức chế chọn lọc BCR-ABL, KIT và PDGFRA đã được nghiên cứu và cho thấy cải thiện đáng kể kết quả điều trị các bệnh  nhân  GISTsg iai  đoạn tiến triển/di căn. Hiện tại, imatinib là điều trị tiêu chuẩn với các bệnh nhân GISTs tiến triển/ di căn.Tại Việt Nam, thuốc được sử dụng từ năm 2007,  tuy  nhiên tại bệnh viện K chưa có nhiều nghiên cứu thống kê đầy đủ và chi tiết.  Vì vậy, tác giả Nguyễn Thu Phương (Trường Đại học Y Hà Nội) cùng các cộng sự đã thực  hiện đề tài nhằm đánh  giá  kết quả điều trị imatinib trên bệnh nhân u mô đệm đường tiêu hóa (GISTs) tại Bệnh viện K.

Nhóm tác giả đã thực hiện phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 36 bệnh nhân u mô đệm dạ dày ruột điều trị bằng imatinib. 36 bệnh nhân GISTs có tuổi trung bình  57.83. Trong đó, có  20 bệnh nhân (55.56%) có đột biến gen KIT exon 11;  3 bệnh nhân (8.33%) có đột biến gen KIT exon 9; 1 bệnh nhân có đột  biến gen PDGFRA(2.78%);  12 bệnh nhân không có đột biến gen KIT và PDGFRA (Wild –type  GISTs) với 5 bệnh nhân sử dụng mẫu máu trong xét nghiệm tìm đột biến gen.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 5.56% bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn, 44.44% đáp ứng một phần. Tỉ lệ kiểm soát bệnh đạt  99.44%. Phù mi mắt, mệt mỏi và buồn nôn là các tác dụng phụ thường gặp nhất. Tỉ lệ độc tính mức độ 3 -4 thấp.

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học Việt Nam năm 2024, tập 538 (số 3).

Pcmy tổng hợp
Theo Tạp chí Y học Việt Nam năm 2024, tập 538 (số 3).
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Công nghệ mới  
 
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học học phần “Cad trong kỹ thuật” theo dự án cho sinh viên ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô, Trường Đại học Vinh
Trong xu hướng hội nhập và phát triển của nền giáo dục nói chung và của đào tạo bậc đại học nói riêng, việc liên tục đổi mới các phương pháp giảng dạy để mang lại hiệu quả tốt nhất là xu hướng tất yếu. Đối với chương trình đào tạo của bậc đại học, các học phần dạy học dự án là các học phần trọng điểm được chú ý đầu tư cả về đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và cơ sở vật chất. Với mục đích hướng tới việc nâng cao chất lượng đào tạo và đa dạng hóa cách thức triển khai học phần dạy học dự án CAD trong kỹ thuật theo đặc thù của ngành đào tạo Công nghệ Kỹ thuật ô tô, bài báo đã đánh giá các nội dung của học phần và đưa ra một số biện pháp cụ thể nhằm thích nghi với tính chất đặc thù của lĩnh vực đào tạo Kỹ thuật ô tô và nâng cao chất lượng đào tạo, bao gồm: Nâng cao nhận thức cho giảng viên và sinh viên về dạy học dự án; Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giảng viên; Đa dạng hóa phương thức tổ chức dạy học; Đảm bảo các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy.


 

Video




© Copyright 2020 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - Quận Ninh Kiều - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->