Ảnh minh họa
Những biến động này đang tác động ngày càng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển và nguồn lợi thủy sản: làm thay đổi các điều kiện môi trường sống và gây rối loạn cân bằng sinh lý của sinh vật. Với nhóm giáp xác, điều kiện bất lợi có thể làm chúng khó lột xác bình thường, dẫn đến chậm lớn, dễ mắc bệnh và tăng tỷ lệ tử vong, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự bền vững của quần thể.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra mối liên hệ giữa biến động khí tượng - hải dương (như nhiệt độ, độ mặn và Chlorophyll-a) với sự biến động nguồn lợi hải sản. Nguyễn Viết Nghĩa (2021) khi phân tích dữ liệu chuỗi thời gian CPUE của nghề lưới kéo đáy giai đoạn 2011–2020 ở vịnh Bắc Bộ đã ghi nhận xu hướng suy giảm sản lượng tại nhiều khu vực ven bờ, có liên quan đến chu kỳ ENSO. Nguyễn Toàn Thắng và cộng sự (2021) cũng nhấn mạnh BĐKH đang tác động ngày càng mạnh đến phát triển bền vững các vùng lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời đề xuất các nhiệm vụ và biện pháp giảm nhẹ, thích ứng phù hợp theo đặc điểm tự nhiên từng khu vực. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu tác động của BĐKH đến cấu trúc nguồn lợi hải sản nói chung và nhóm giáp xác nói riêng là cần thiết nhằm làm rõ vai trò chi phối của ENSO và các yếu tố khí tượng - hải dương đối với quần xã sinh vật biển, từ đó tạo cơ sở khoa học cho kịch bản quản lý nghề cá thích ứng và khai thác bền vững ven bờ.
Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau) là địa phương ven biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có bờ biển khoảng 56 km và vùng biển quản lý rộng trên 40.000 km², nổi bật với hệ tôm, cua, ghẹ có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, những năm gần đây nguồn lợi khai thác có dấu hiệu suy giảm rõ rệt như CPUE giảm, tỷ lệ cá thể kích thước nhỏ tăng và cấu trúc loài thay đổi bất thường; đồng thời, tác động của ENSO cùng biến động nhiệt độ và độ mặn biển ngày càng bộc lộ, ảnh hưởng tới khả năng khai thác hiệu quả và làm thay đổi động thái các khu vực tập trung nguồn lợi truyền thống. Dựa trên dữ liệu tổng hợp từ vệ tinh, trạm quan trắc và số liệu thực đo trong 10 năm (2010–2019) về SST, SSS, SSH, CHL, lượng mưa và thành phần dòng chảy (uo, vo), kết hợp dữ liệu nguồn lợi giáp xác từ 12 chuyến điều tra bằng lưới kéo đáy cá và lưới kéo đáy tôm, nghiên cứu sử dụng PCoA và mô hình hồi quy tổng quát (GAMs) để đánh giá mối liên hệ giữa môi trường và biến động quần xã. Kết quả cho thấy cấu trúc quần xã giáp xác biến động theo các gradient môi trường: nhóm loài ven bờ gắn với nhiệt độ cao, mưa nhiều, độ mặn giảm và CHL tăng, trong khi nhóm ngoài khơi đặc trưng bởi chế độ nhiệt và muối ổn định; trong đó SST là yếu tố chi phối chính. Nghiên cứu kết luận nguồn lợi giáp xác ở vùng biển ven bờ Bạc Liêu chịu ảnh hưởng rõ rệt của ENSO với độ trễ khoảng 6 tháng, đồng thời chịu tác động kép từ cả biến đổi khí hậu và hoạt động khai thác.
|