Nghiên cứu

Nghiên cứu do các tác giả Nguyễn Thị Ái Lan và Đái Thị Xuân Trang - Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ thực hiện.
Gỗ là nguồn tài nguyên đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng tự nhiên suy giảm cả về diện tích và trữ lượng. Khả năng đáp ứng nguyên liệu gỗ cho các nhu cầu của xã hội sẽ không đủ. Rừng trồng của nước ta với các loài cây mọc nhanh được tập trung phát triển trong một vài thập niên trở lại đây đã và đang trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ chính cho các nhu cầu sử dụng của xã hội. Trong quá trình sử dụng, gỗ luôn chịu tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật như mối, mọt, nấm mục, mốc và yếu tố phi sinh vật như nhiệt độ, độ ẩm môi trường, ánh sáng, lửa.... làm cho gỗ bị nứt vỡ, cong vênh, hoặc bị phá huỷ. Đối với gỗ mọc nhanh rừng trồng, các tính chất gỗ thường kém hơn các loại gỗ quý rừng tự nhiên.
Keo tai tượng và Keo lá liềm là hai loài cây đã được xác định là loài cây trồng rừng chủ yếu ở nước ta. Giai đoạn 2010-2015, Việt Nam đã trồng gần 733,000 ha Keo tai tượng trên nhiều lập địa vùng thấp từ Bắc tới Nam (Tổng cục Lâm nghiệp, 2015). Trong khi Keo lá liềm được trồng ít hơn (6500 ha tập trung chủ yếu ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) nhưng lại là loài cây sinh trưởng nhanh và có triển vọng cho các vùng cát và cát nội đồng ven biển miền Trung, nơi chưa xác định được nhiều giống cây trồng rừng kinh tế. Gỗ của hai loài keo này đã và đang được sử dụng làm gỗ giấy và gỗ, nhưng chất lượng gỗ rừng trồng còn thấp do nguyên nhân rỗng ruột, khối lượng riêng thấp, độ co rút lớn và nhiều khuyết tật. Hiện công tác cải thiện giống cho hai loài cây này còn nhiều hạn chế. Các nghiên cứu trong thời gian qua mới chỉ tập trung vào sinh trưởng, chất lượng thân và ở mức độ thấp (biến dị xuất xứ).
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai được xem là nguồn nước cơ bản và quan trọng nhất trong phát triển kinh tế-xã hội vùng miền Đông Nam bộ, và cũng là vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất của cả nước). Từ sau ngày giải phóng, đặc biệt là những năm gần đây, hàng trăm hồ chứa các cấp trên hệ thống sông Đồng Nai và vùng phụ cận ven biển đã được xây dựng đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội rất lớn và đang làm thay đổi rõ rệt đời sống của người dân trong vùng. Các công trình thủy điện lớn trên lưu vực sông Đồng Nai đã và đang xây dựng như Trị An, Đa Nhim, Thác Mơ, Hàm Thuận - Đa Mi, Đại Ninh... có tổng công suất lắp máy tính đến năm 2010 là trên 2.200 MW. Các hồ chứa của nhà máy thủy điện đều có quy mô rất lớn, với tổng dung tích các hồ đã và đang xây dựng đến năm 2010 lên đến 8,4 tỉ m3. Các hồ thủy điện này ngoài mục đích phát điện còn có khả năng cung cấp nước phục vụ các nhu cầu kinh tế khác như tưới, cấp nước sinh hoạt, phòng lũ v.v... Nhìn chung, các công trình lớn trên các dòng chính và nhánh là công trình lợi dụng tổng hợp, ngoài nhiệm vụ chính là phát điện, cấp nước, các công trình còn có nhiệm vụ tưới trực tiếp và cắt giảm lũ cho hạ lưu, đặc biệt là các công trình Trị An, Thác Mơ-Cần Đơn, Dầu Tiếng, Hàm Thuận và Đa Nhim.
Kỹ thuật chụp cắt lớp (CT) không chỉ được sử dụng trong y khoa mà còn được dùng để phục vụ nhiều mục đích khác trong nghiên cứu khoa học, kiểm tra không phá hủy, chẩn đoán tình trạng các thiết bị, quá trình trong công nghiệp. Các nhà máy chế biến dầu khí, hóa chất thường bao gồm hàng chục khối công nghệ với hàng trăm mét đường ống với hình dạng, kích thước khác nhau. Mỗi dây chuyền thiết bị trong nhà máy có những vấn đề khác nhau cần phải khảo sát, chẩn đoán trong quá trình vận hành hoặc bảo dưỡng. Thiết bị ứng dụng để khảo sát các đối tượng công nghiệp như kiểm tra khuyết tật đường ống, chụp cấu trúc bên trong vật thể, trụ bê tông, cột công trình xây dựng, và cả thân cây. Nguyên lý hoạt động của máy là dùng tia gamma chụp vào lõi các vật thể để xác định cấu tạo bên trong, cho hình ảnh kín của hiện vật để tìm ra khuyết tật mà không cần phải mở hoặc mổ xẻ hiện vật.
Diện tích nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL tập trung tại 8 tỉnh ven biển với 2 đối tượng chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Đến năm 2014, diện tích nuôi tôm nước lợ toàn vùng đạt 604.954ha, tăng trưởng bình quân 1,23%/năm so với năm 2005 (541.982ha), sản lượng tăng đáng kể với 6,1%. Có thể thấy, năng suất chính là nguyên nhân chính của sự chênh lệch giữa diện tích và sản lượng nuôi tôm nước lợ ĐBSCL.
Thoái hóa khớp (THK) là bệnh khá phổ biến và là nguyên nhân chính gây đau và tàn phế đặc biệt ở người cao tuổi. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có khoảng 80% dân số trên 60 tuổi bị thoái hóa khớp. Năm 2005 ở Mỹ có 26,9 triệu người bị thoái hóa khớp, con số này ở Anh là 8,5 triệu người trong đó tỉ lệ người Anh trên 55 tuổi bị THK chiếm khoảng 10%. Ở Việt Nam, kinh tế đất nước ngày một phát triển, cùng với sự già hóa dân số là sự gia tăng các bệnh lý mạn tính, trong đó có THK. Theo điều tra dịch tễ tình hình bệnh xương khớp trong cộng đồng một số quần thể dân cư ở phía Bắc năm 2002, tỷ lệ bệnh THK ở nông thôn là 5,7% và ở thành thị là 4,1%. Tổn thương cơ bản trong THK là tình trạng thoái hóa của sụn khớp.
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và nhập nền kinh tế quốc tế trở thành động lực thúc đẩy cho quá trình hình thành và phát triển của hệ thống phòng thí nghiệm tại Việt Nam trong thời gian qua. Trong khoảng 15-20 năm trở lại đây, hoạt động các phòng thí nghiệm phát triển được một bước dài đáng ghi nhận với sự đa dạng hóa hệ thống phòng thí nghiệm ở nhiều lĩnh vực và mức đầu tư ước tính đến vài ngàn tỷ đồng cho các thiết bị khoa học. Hiện nay đa số các phòng thí nghiệm được đầu tư tới 50-70 tỷ đồng, có những phòng thí nghiệm được đầu tư cả trăm tỷ đồng.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng như hiện nay sóng biển và sóng tràn đang trở thành một dạng tải trọng đặc biệt trong thiết kế đê biển. Các giải pháp công nghệ mới, công nghệ tiên tiến nhằm ổn định toàn bộ thân đê, tăng cường ổn định lớp gia cố mái thượng lưu chịu được sức mạnh của sóng lớn và ăn mòn của nước biển và giải pháp công trình cho mái hạ lưu đê khi có sóng tràn qua là rất cần thiết và có tính khoa học cao.
Tống quá sủ (Alnus nepalensis D.Don) là một loài cây mọc nhanh, đa mục đích, phát triển tốt ở các tỉnh miền núi Tây Bắc và Đông Bắc của Việt Nam (đặc biệt có thể phát triển trên núi đá vôi). Gỗ Tống quá sủ mềm, nhẹ, cấu tạo tương đối đồng nhất, không có chất dầu nhựa nên rất thuận lợi cho xử lý gỗ bằng các phương pháp cơ học, hoá học, vật lý... Loại cây này còn có khả năng tái sinh bằng hạt rất tốt, nhiều nơi tái sinh thành những đám rừng thuần loài, mật độ khá dày, tái sinh chồi cũng rất mạnh lại dễ trồng. Cây chịu được lửa rừng, chịu được giá rét và sương muối. Loài Tống quá sủ phát triển tốt nhất ở những khu vực có lượng mưa trung bình hàng năm vượt quá 800 mm và độ ẩm tương đối không khí trên 70%. Cây ưa thích đất có ẩm và thoát nước tốt, nhưng không ngập nước, không đòi hỏi màu mỡ của đất cao nhưng thích đất thấm. Cây kém phát triển ở nơi có thời tiết khô.
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này