Nghệ là một loại cây có lịch sử được dùng làm thuốc rất lâu đời. Ở Đông Nam Á, nghệ được sử dụng như một loại gia vị chính, có màu vàng của củ nghệ (Prasad & Aggarwal, 2011). Nghệ có tên khoa học là Curcuma longa L. thuộc họ gừng, là loại cây thân rễ sống lâu năm và có nguồn gốc ở Châu Á (Rezvanirad et al., 2016).
Theo Xia et al. (2005), có 70 loài thuộc chi Curcuma và chúng phân bố rộng khắp các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Xuất hiện tự nhiên ở Ấn Độ, nghệ còn có ở Đông Dương, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và đến miền bắc Australia. Ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như Tây Phi, Nam Mỹ, Úc và Châu Á, nghệ được trồng rất phổ biến (Ravindran et al., 2007). Là một loại gia vị, nghệ được sử dụng trong thực phẩm để tăng hương vị và màu sắc cho món ăn (Nwaekpe et al., 2015; Jyotirmayee & Mahalik, 2022). Trong mỹ phẩm, nghệ được dùng như là thành phần chống lão hóa, làm sáng da và trị mụn. Bên cạnh đó, củ nghệ còn được sử dụng nhiều trong dược phẩm điều trị bệnh viêm loét dạ dày, thiếu máu, ung thư, tiểu đường, tiêu hóa, ngộ độc thực phẩm, sỏi mật, khó tiêu, ký sinh trùng và làm lành vết thương (Bhowmik et al, 2009; Akaberi et al., 2021). Những hoạt tính sinh học hữu ích này có thể nhờ vào sự có mặt của flavonoid – là hợp chất có trong tự nhiên góp phần vào hoạt tính sinh học của cây (Roy et al., 2022; Hao et al., 2024; Tran et al., 2024).
Nghệ trắng có tên khoa học là Curcuma Aromatica Salisb (Krishnan et al., 2024), còn được gọi là ngãi trắng, thuộc chi nghệ, họ gừng. Ở Việt Nam, nghệ trắng có ở các tỉnh như Cao Bằng, Yên Bái, Lai Châu và Hòa Bình. Củ của nghệ trắng cũng được dùng trong một số bài thuốc trong y học dân gian Việt Nam (Ha et al., 2022)
Các nghiên cứu và sản phẩm nghiên cứu từ nghệ rất phong phú, nhưng phần lớn là nghệ vàng, còn nghệ trắng thì còn hạn chế. Cụ thể, có vài công trình nghiên cứu ở Việt Nam được tìm thấy, ví dụ, công trình nghiên cứu của Ha et al. (2022) cho biết cao ethanol củ nghệ trắng Yên Bái có khả năng kháng sinh tốt và chống gốc tự do với IC50 = 183,80 ± 0,130 μg/mL. Bên cạnh đó, hoạt tính kháng khuẩn và kháng oxy hóa của dịch nghệ trắng lên men ở Quảng Nam cũng được nghiên cứu (Giang et al., 2024). Vì vậy, trong nghiên cứu này, ngoài cung cấp thông tin về flavonoid tổng, hoạt tính kháng vi sinh vật, kháng oxy hóa thì hoạt tính kháng viêm cũng được nghiên cứu để dữ liệu khoa học của nghệ trắng được phong phú thêm.
Trong nghiên cứu này, nguyên liệu được sử dụng là củ nghệ trắng (Aromatica Salisb extracts) được trồng và thu hoạch tại huyện Prông Pắk, tỉnh Đắk Lắk. Bột nguyên liệu được chiết flavonoid bằng 4 loại dung môi (ethyl acetate, ethanol, acetone và petroleum ether) bằng phương pháp ngâm để thu được cao chiết tương ứng. Tiếp theo đó, cao chiết có hàm lượng flavonoid cao nhất được xác định hoạt tính sinh học, bao gồm: hoạt tính kháng oxy hóa, kháng vi sinh vật và kháng viêm. Kết quả khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH cho thấy cao chiết củ nghệ trắng có khả năng kháng gốc tự do DPPH với giá trị IC50 = 837,06 ± 1,34 µg.mL-1. Kết quả khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật của cao chiết củ nghệ trắng bằng phương pháp khuếch tán qua đĩa thạch cho thấy cao chiết có khả năng ức chế 7 loại vi sinh vật gây bệnh.
Qua thời gian nghiên cứu, kết quả cho thấy, trong các dung môi được khảo sát chiết cao từ củ nghệ trắng, thì ethanol 99,5% có khả năng chiết flavonoid cao nhất (TFC đạt 68,37 ± 1,63 mg QE.g1). Kết quả khảo sát hoạt tính sinh học cho biết, cao ethanol nghệ trắng có hoạt tính kháng viêm yếu. Tuy nhiên, cao chiết có khả năng kháng tốt gốc tự do DPPH với giá trị IC50 = 837,06 ± 1,34 µg.mL-1. Mặt khác, về hoạt tính kháng vi sinh vật thì cao chiết có khả năng ức chế 7 loại vi sinh vật gây bệnh. Kết quả này cho thấy khả năng ứng dụng của cao ethanol nghệ trắng trong các sản phẩm kháng sinh và phòng chống lão hóa.
|