Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (25/04/2026) ]
Ảnh hưởng của chu kỳ tắt sục khí đến biến động hàm lượng oxy, tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng (Monopterus albus) trong hệ thống tuần hoàn
Lươn đồng (Monopterus albus) là loài thủy sản nước ngọt phân bố khá rộng ở các thủy vực nội địa, có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao nhờ hàm lượng protein, lipid, khoáng chất, vitamin và các vi lượng phong phú.

Ảnh minh họa

Tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với hệ sinh thái đa dạng và tiềm năng nuôi trồng thủy sản lớn, nghề nuôi lươn đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long và Tây Ninh. Hiện nay, các mô hình nuôi khá phổ biến gồm nuôi không bùn trong bể xi măng, bể lót bạt, thùng nhựa…, trong đó bể lót bạt được áp dụng rộng rãi nhất; nhìn chung, nuôi trồng thủy sản (đặc biệt nuôi lươn) đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế – xã hội của ĐBSCL và cả nước.

Trong bối cảnh diện tích nuôi tiếp tục mở rộng kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, yêu cầu đặt ra là xây dựng mô hình vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là trong khâu xử lý và tái sử dụng nước. Một hướng tiếp cận có triển vọng là hệ thống nuôi tuần hoàn (Recirculating Aquaculture System – RAS), giúp tái sử dụng nước cấp, giảm thải và duy trì ổn định chất lượng môi trường nuôi. Trong RAS, sục khí liên tục của hệ thống sục khí đóng vai trò then chốt, tạo điều kiện cho vi sinh vật phân giải amoniac (NH₃) thành nitrat (NO₃⁻) ít độc, từ đó hỗ trợ duy trì môi trường sống an toàn cho vật nuôi. Tuy nhiên, việc vận hành sục khí liên tục cho bể lọc sinh học làm tăng đáng kể chi phí điện năng, vì vậy nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các chu kỳ tắt sục khí đến hàm lượng oxy hòa tan, tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng.

Nghiên cứu được tiến hành trên lươn đồng (Monopterus albus) nuôi trong hệ thống RAS từ giai đoạn lươn giống (10,02±0,01 g/con) đến lươn thương phẩm (210,46±7,44 g/con), thực hiện từ tháng 07/2024 đến tháng 4/2025. Thí nghiệm khảo sát biến động oxy hòa tan theo các chu kỳ sục khí khác nhau được triển khai tại trại sản xuất giống Phú Thứ, phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ; còn thực nghiệm nuôi thương phẩm ứng dụng chu kỳ sục khí hiệu quả được thực hiện tại phường Thới Lạc và phường Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Thí nghiệm gồm ba nghiệm thức với ba lần lặp: nghiệm thức 1 sục khí liên tục 24 giờ; nghiệm thức 2 sục khí 1 giờ – nghỉ 1 giờ; nghiệm thức 3 sục khí 2 giờ – nghỉ 2 giờ. Kết quả cho thấy nghiệm thức 2 mang lại hiệu quả tối ưu, vừa đảm bảo oxy cho hoạt động của vi sinh vật trong bể lọc, vừa giảm chi phí vận hành; khi nuôi ứng dụng nghiệm thức 2 với mật độ 350 con/m² (10,02±0,01 g/con), sau 8 tháng đạt khối lượng 210,46±7,44 g/con, tỷ lệ sống 74,8±4,7% và năng suất 110,3±10,9 kg/m³. Về hiệu quả kinh tế, lợi nhuận ghi nhận ở mức 2,78 triệu đồng/m³ với tỷ suất lợi nhuận 26,7%, đồng thời chu kỳ sục khí 1 giờ – nghỉ 1 giờ giúp các yếu tố môi trường được duy trì ổn định, không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và hiệu suất nuôi, trong khi vẫn góp phần tiết kiệm năng lượng và duy trì hiệu quả sản xuất.

ntdinh
Theo Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 62, Số 2B (2026): 222-231
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này