Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (12/04/2026) ]
Đánh giá độc lực của chủng virus dịch tả lợn châu phi vnua/hy-asf1 qua đường tiếp xúc giữa lợn khỏe và lợn gây bệnh thực nghiệm bằng đường mũi
Dịch tả lợn châu Phi (African swine fever – ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus gây ra, đặc trưng bởi tình trạng xuất huyết nghiêm trọng, khả năng lây lan nhanh và tỷ lệ chết cao ở lợn nhà cũng như lợn rừng.

Ảnh minh họa

Virus ASF là virus ADN sợi kép có kích thước lớn, cấu trúc phức tạp và độ ổn định cao, thuộc họ Asfarviridae. Dựa trên phân tích gen B646L (p72), virus ASF được phân thành 24 kiểu gen (genotype); trong đó chỉ có hai kiểu gen I và II được ghi nhận là đã lan rộng ra ngoài châu Phi. Kiểu gen II đặc biệt nhanh chóng bùng phát và lan tới châu Âu, châu Á sau đợt khởi phát tại Georgia năm 2007, và đến tháng 8/2018 đã được ghi nhận lần đầu tại Trung Quốc. Từ đó, virus tiếp tục lan rộng sang nhiều quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam, Campuchia, Lào, Philippines, Malaysia, Ấn Độ và gần đây nhất là Bangladesh, gây các đợt bùng phát dịch với quy mô lớn (Dixon và cs., 2020; Rowlands và cs., 2008; Zhou và cs., 2018; Ata và cs., 2022; WOAH, 2024).

Tại Việt Nam, ca bệnh ASF đầu tiên được báo cáo vào tháng 2/2019 tại tỉnh Hưng Yên. Chủng virus gây bệnh được xác định là VNUA/HY-ASF1 (GenBank MK554698), thuộc kiểu gen II và có độc lực cao (Le và cs., 2019). Từ khi xâm nhập, ASF đã lan rộng toàn quốc và gây thiệt hại nghiêm trọng, với khoảng 6 triệu con lợn chết do nhiễm bệnh hoặc bị tiêu hủy nhằm kiểm soát dịch (FAO, 2020). Hiện nay, các nhóm virus chính gây bùng phát tại Việt Nam gồm virus ASF kiểu gen II và virus ASF tái tổ hợp kiểu gen I/II. Nhiều nghiên cứu cho thấy các chủng ASF ở Việt Nam có thể gây bệnh diễn tiến từ cấp tính đến rất cấp tính và đi kèm tỷ lệ chết cao; một số công trình đã đánh giá độc lực chủng VNUA/HY-ASF1 trên mô hình lợn thí nghiệm, nhưng chủ yếu tập trung vào đường gây nhiễm nhân tạo bằng tiêm hoặc nhỏ trực tiếp vào mũi/miệng. Vì vậy, các dữ liệu về khả năng lây truyền thực sự qua tiếp xúc trực tiếp giữa lợn khỏe và lợn nhiễm vẫn còn hạn chế, dẫn đến khoảng trống trong việc mô tả đầy đủ các đặc điểm lan truyền, biểu hiện lâm sàng và tổn thương bệnh lý ở điều kiện lây nhiễm tự nhiên.

Nghiên cứu này đánh giá khả năng lây nhiễm và diễn biến bệnh khi lợn nhiễm chủng ASF VNUA/HY-ASF1 (kiểu gen II) trong mô hình lây nhiễm tự nhiên, bao gồm hai nhóm: nhóm lợn gây nhiễm trực tiếp bằng đường nhỏ mũi và nhóm lợn tiếp xúc. Ở nhóm lợn gây nhiễm, triệu chứng xuất hiện sau 3–4 ngày gây nhiễm (dpi), với sốt cao (>40°C), mệt mỏi, chán ăn và tử vong trong khoảng 6–9 dpi; trong khi nhóm lợn tiếp xúc bắt đầu xuất hiện triệu chứng từ 8 dpi, ghi nhận hai con tử vong vào ngày 14 dpi và con còn lại sốt rất cao (41,9°C) kèm các biểu hiện lâm sàng điển hình. Kết quả real-time PCR cho thấy virus được phát hiện trong máu từ 4 dpi ở nhóm nhỏ mũi và từ 6 dpi ở nhóm tiếp xúc, tải lượng virus tăng dần theo thời gian và đạt đỉnh ngay trước khi tử vong; virus cũng được ghi nhận tại các lỗ tự nhiên (mũi, miệng, hậu môn) với mức độ bài thải khác nhau. Về bệnh lý, kết quả mổ khám ghi nhận tổn thương đại thể nghiêm trọng nhất ở lách (sưng to, sung huyết, mềm nhũn), đồng thời phổi, gan, thận và hạch bạch huyết cũng bị tổn thương ở các mức độ khác nhau; mức độ tổn thương tổng thể có xu hướng  tăng từ nhóm gây nhiễm trực tiếp sang nhóm tiếp xúc.

Nhìn chung, bộ dữ liệu thu được từ mô hình lây nhiễm tự nhiên đã làm rõ độc lực biểu hiện của chủng VNUA/HY-ASF1 thông qua thời gian xuất hiện triệu chứng, diễn biến tải lượng virus và tỉ lệ tử vong ở hai nhóm thí nghiệm. Đồng thời, việc phát hiện virus đồng thời trong máu và tại các lỗ tự nhiên cùng với xu hướng biến đổi tổn thương bệnh lý đại thể cung cấp bằng chứng thực nghiệm về đặc điểm bài thải và khả năng lây truyền trong điều kiện tiếp xúc tự nhiên, từ đó góp phần làm sáng tỏ cơ chế lan truyền của ASF trong đàn lợn.

ntdinh
Theo Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(7): 879-888
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này