Ảnh minh họa
Hoạt động sản xuất giống và thương phẩm là mắt xích then chốt; năm 2024, cả nước ghi nhận 1.949 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ với sản lượng đạt 159 tỉ con (tôm thẻ chân trắng 109,8 tỉ con và tôm sú 49,2 tỉ con). Tuy nhiên, bên cạnh số lượng lớn, chất lượng con giống vẫn còn hạn chế, chưa bảo đảm đầy đủ nguồn giống sạch bệnh cho người nuôi, làm gia tăng rủi ro trong quá trình nuôi thương phẩm (Nguyễn Hằng, 2025). Vì vậy, nuôi vỗ tôm bố mẹ được xem là khâu quyết định để chủ động tạo đàn bố mẹ thành thục tốt, đồng thời nâng chất lượng sinh sản và chất lượng ấu trùng ngay từ giai đoạn đầu.
Khả năng sinh sản của tôm bố mẹ chịu chi phối bởi nhiều yếu tố như điều kiện môi trường, mật độ nuôi vỗ và đặc biệt là chế độ thức ăn (González-González và cs., 2009; Wyban, 2009; Võ Văn Ấn và cs., 2012). Thức ăn giữ vai trò quyết định vì dinh dưỡng phù hợp sẽ được tích lũy vào noãn hoàng, từ đó đảm bảo sự phát triển bình thường của phôi và duy trì chất lượng ấu trùng. Harrison (1990) cũng chỉ ra rằng dinh dưỡng thiếu hụt hoặc mất cân đối có thể làm tôm sinh sản kém thậm chí không thể sinh sản. Trong thực tiễn nuôi vỗ, nhiều cơ sở sử dụng giun nhiều tơ (GNT) làm nguồn thức ăn chủ lực do giá trị dinh dưỡng cao: GNT giàu PUFA (đặc biệt n-3 và n-6), phospholipid, protein và các chất điều hòa như prostaglandin; các PUFA này được xem là cần thiết cho sự phát triển tuyến sinh dục của tôm bố mẹ (Lytle và cs., 1990). Nhiều nghiên cứu cho thấy khẩu phần có GNT giúp tăng cường sức sinh sản và chất lượng ấu trùng so với các nguồn thức ăn khác nhờ hàm lượng PUFA cao (Millamena & Pascual, 1990; Harrison, 1991), đồng thời ở giai đoạn thành thục sinh dục còn có thể cải thiện tỷ lệ thành thục nhờ chất lượng GNT ở giai đoạn khai thác/phù hợp dinh dưỡng (Wouters và cs., 2001; Limsuwatthanathamrong và cs., 2012).
Các kết quả nghiên cứu ứng dụng cũng phản ánh rõ hiệu quả của GNT đối với sinh sản của tôm, dù từng loài và cách phối thức ăn có thể cho đáp ứng khác nhau. Trương Phụng Phương và cs. (2016) ghi nhận tôm thẻ bố mẹ Litopenaeus vannamei nuôi vỗ bằng GNT của P. nuntia được làm giàu DHA cho sức sinh sản tuyệt đối cao hơn 2% (28,34 × 10⁴ so với 27,79 × 10⁴), sức sinh sản tăng 2% (16,67 × 10⁴ so với 15,93 × 10⁴), tỷ lệ thụ tinh tăng 1,5% (85,87% so với 84,53%) và tỷ lệ nở tăng 2% (88,94% so với 87,22%) so với nhóm dùng giun thu ngoài tự nhiên; đồng thời chỉ ra xu hướng cải thiện chất lượng sinh sản dù một số chỉ tiêu chuyển giai đoạn không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tương tự, khi so sánh khẩu phần cho tôm sú mẹ với các mức phối trộn, kết quả cho thấy nghiệm thức sử dụng 100% thức ăn GNT cho thời gian lên trứng nhanh nhất, tỷ lệ đẻ đạt 100% (trong khi nghiệm thức 3 giảm còn 66,67%), sức sinh sản tuyệt đối và tương đối cao hơn rõ rệt (P < 0,05), cùng với tỷ lệ nở và tỷ lệ chuyển giai đoạn ấu trùng cao hơn (P < 0,05), chứng minh giá trị của GNT trong nâng chất lượng sinh sản và ấu trùng. Tuy vậy, hiện vẫn thiếu nghiên cứu làm rõ hiệu quả sử. |