Hiện nay, khí hậu toàn cầu thay đổi, điều kiện môi trường bất lợi ảnh hưởng đến hệ thống canh tác cam quýt (Vincent et al., 2020). Cam quýt khá nhạy cảm với tình trạng thiếu nư ớc (Aparicio-Durán et al., 2021). Ở những vùng khô hạn và bán khô hạn, “stress” về nước đã hạn chế năng suất cây trồng, thiếu nước ở cam quýt làm giảm sinh trưởng và năng suất, làm giảm kích thước trái đôi khi là chất lượng trái dẫn đến thiệt hại kinh tế (Wu & Xia, 2006; Manner et al.,2006; Rodríguez-Gamir et al., 2010). Vì vậy, đã có một số nghiên cứu về giống cam quýt chịu hạn: theo García‐Sánchez et al. (2007) đã chứng minh rằng Cleopatra (Citrus resnhi Hort. ex Tanaka chịu hạn cao hơn Carrizo citrange (Citrus sinensis (L.)Osb. x Poncirus trifoliata L.). Trong nghiên cứu của Tuyết và ctv. (2016) tìm ra được giống cam 3 lá có khả năng chịu hạn tốt nhất so với các giống và có khả năng phục hồi sau 35 ngày xử lý hạn. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển sản xuất cam quýt hiện nay cần có những gốc ghép cam quýt mới với khả năng chống chịu tốt với bất lợi phi sinh học và sinh học (Shafqat et al., 2019).
Cam đường là loài duy nhất trong chi Limnocitrus (họ Rutaceae) phân bố tự nhiên ở vùng ven biển Indonesia, Trung và Nam Việt Nam (Le et al., 2020). Cam đường có tên khoa học là (Limnocitrus littoralis(Miq.) Swingle), còn có tên gọi khác là đa tử biển. Theo Sauvan et al. (2009), các loài Limnocitrus littoralis(Miq.) Sw. có môi trường sống ở các vùng khô hạn và nóng. Ở Việt Nam, cam đường tập trung chủ yếu ven biển ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận (Hộ, 2003; Nguyen et al., 2022). Cây dạng bụi cao 1-2 m, cành không có lông, gai mọc thẳng to. Lá dai cứng và không có lông, hoa trắng thơm có 4-5 cánh và có 8-10 tiểu nhụy, trái nhỏ màu cam to 3-4 cm ít múi và chứa từ 1 đến 3 hạt có tử diệp màu xanh, thịt trái rất ngọt (Hộ, 2003).
Để làm cơ sở cho việc sử dụng cam đường làm gốc ghép trên cam quýt trong điều kiện bất lợi thì việc đầu tiên cần xác định khả năng chống chịu hạn là hết sức cần thiết.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định khả năng chống chịu hạn của cam đường. Thực hiện từ 10/2022-12/2022 trong nhà màng với nhiệt độ và ẩm độ không khí trung bình tương ứng là 33,8oC và 64,9%. Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, thừa số 2 nhân tố là môi trường (không và có xử lý hạn) và giống cam (đường, ba lá và mật), thí nghiệm có 30 lặp lại, 1 lặp lại là 1 cây/chậu. Kết quả cho thấy: cây cam đường duy trì màu sắc lá (ΔE*ab) sau 25 ngày xử lý hạn. Điều kiện hạn có ảnh hưởng ít đến chỉ số diệp lục tố của cam đường. Hàm lượng proline trong lá cũng như khả năng tích lũy proline trong điều kiện hạn của cây cam đường rất thấp, cho thấy cam đường ít nhạy cảm với hạn. Cây cam đường có biểu hiện héo sau 23,8 ngày xử lý hạn và tỷ lệ cây chết (thân lá khô) sau 30 ngày xử lý hạn thấp (30%) khi ẩm độ cát còn 1,53%. Cây cam đường có sự sinh trưởng tương đương với điều kiện không xử lý hạn và có bộ rễ phát triển tốt. Sinh khối của cây cam đường cao hơn so với các giống trong cùng điều kiện hạn. Do đó, cây cam đường có khả năng chống chịu tốt với điều kiện hạn. |