Hình minh họa (Nguồn: internet)
Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2019, tổng sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt ước tính đạt 8.200,8 nghìn tấn đạt vượt trên 1,2 triệu tấn so với mục tiêu đặt ra và tăng 5,6% so với năm trước. Trong đó sản lượng nuôi trồng đạt trên 4.432,5 nghìn tấn, tăng 6,5% so với năm 2018. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8,6 tỷ USD, giảm 1,2% so với năm 2018. Trong đó, cá tra là một loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao trong ngành công nghiệp thủy sản của Việt Nam. Sản lượng nuôi cá tra tại khu vực ĐBSCL trong năm 2019 đạt 1,42 triệu tấn, tương đương năm 2018. Trong đó, 82% sản lượng cả nước tập trung ở các tỉnh như Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ. Xuất khẩu sản phẩm cá tra là thế mạnh của Việt Nam, nên việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành hàng này cần được quan tâm. Thực tế cho thấy phi lê cá tra chứa tỉ lệ các axit béo có giá trị cao như axit béo không bão hòa đa (PUFA), axit béo không bão hòa cao (HUFA), axit béo không bão hòa cao nhóm omega-3 (n-3 HUFA), omega-3 (n-3) khá thấp so với các loài cá khác cá chẽm và giá của cá tra thấp hơn nhiều so với các loài cá da trơn khác và cá nước ngọt trên thị trường tiêu thụ. Nhiều nghiên cứu trên các loại cá khác nhau đã chỉ ra rằng khi cá được cho ăn một loại thức ăn trong một thời gian dài thì axit béo thành phần của lipid trong cơ thể cá sẽ tương tự thành phần các axit béo trong lipid của thức ăn. Nghiên cứu trên cá trắm cỏ bột (Galaxias maculatus) nhận thấy rằng hàm lượng HUFA từ thức ăn có thể ảnh hưởng tới tích lũy HUFA trong cơ thể cá, đồng thời ảnh hưởng tới tỷ lệ sống và sự tăng trưởng của cá. Phụ phẩm từ chế biến cá tra chiếm tới hơn 60-70% sinh khối cá, trong đó có gan cá. Gan là nội tạng quan trọng giúp chuyển hóa lipid và nhạy cảm với những thay đổi trong thành phần axit béo của chế độ ăn uống. Bên cạnh đó, gan là cơ quan trung gian chuyển tiếp nguồn axit béo sang trứng; giúp cung cấp nguồn năng lượng và dinh dưỡng trong quá trình thành thục. Thành phần axit béo trong gan và cơ thịt tương đương với nhau và tương đương với thành phần axitbéo trong thức ăn.Tuy nhiên, cho đến nay, các thông tin về thành phần axit béo ở cá tra nói chung và gan cá nói riêng còn khá ít ỏi. Các nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn ở nước ta hiện nay chỉ tập trung vào các nguyên liệu giàu protein và carbohydrate mà chưa quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu sử dụng các nguyên liệu giàu chất béo. Vì vậy, nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của các nguyên liệu dầu bổ sung vào thức ăn đến sự thay đổi thành phần axit béo trong gan cá tra.
Thí nghiệm có 4 nghiệm thức (D1, D2,D3, D4) bổ sung lần lượt các nguyên liệu dầu cám gạo, hạt lanh, dầu cá, dầu đậu nành; 1 nghiệm thức kết hợp hạt lanh và dầu cá (D5) và 1 nghiệm thức thương mại (D6). Gan được phân tích bằng hệ thống GC-FID. Kết quả cho thấy các axit béo thiết yếu có xu hướng thay đổi tương tự nhau sau 6 tháng nuôi. Oleic axit cao nhất ở D1 (34,46%). Linoleic axitcao nhất ở D4 (6,67%). α-Linolenicaxit cao nhất ở D2 (2,94%) và D5 (2,02%), cao hơn rất nhiều so với các nghiệm thức còn lại. Arachidonic axit của D6 (5,27%) là cao nhất. Eicosapentaenoic axit cao ở D2 (1,32%) và D5 (1,25%). Docosahexaenoic axit cao nhất ở D3 (7,66%) và D5 (7,47%). Axit béo không bão hòa cao của D4 (14,41%) cao nhất. Tổng omega-3 cao nhất D2 (10,84%), omega-6 cao nhất tại D4 (14,48%). Tỷ lệ omega-3/omega-6 cao nhất D2, thấp nhất ở D6. Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy thành phần axit béo trong gan cá phản ánh sự tương quan với thành phần axit béo trong thức ăn.
|