Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sẵn lòng trả bằng hàm Logit. Kết quả phân tích từ thu thập ngẫu nhiên 400 quan sát từ ba thành phố tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy người dân sẵn lòng chi trả từ86.000 đồng đến 110.000 đồng/tháng/hộ lần lượt đối với phương pháp phi tham số và tham số. Kết quả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cho sự cải thiện chất lượng của dịch vụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt gồm mức phí, hộ có phân loại chất thải rắn sinh hoạt, hộ có ý định ủng hộ chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và thu nhập hàng tháng của đáp viên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận là nhỏ từ đó tăng tính tin cậy của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, để khuyến khích người dân tham gia chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt, chính quyền các cấp cần nâng cao nhận thức và khuyến khích các hộ có thu nhập cao hơn tham gia trước.
Hiện nay, lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh từ sinh hoạt cũng như các hoạt động sản xuất của con người ngày càng nhiều và mức độ gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Vì vậy, “Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050” được phê duyệt tại Quyết định số2149/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2025 với 90% tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ. Mục tiêu này đòi hỏi cần phải có một hệthống quản lý chất thải tiên tiến hơn với nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó, phân loại chất thải rắn tại nguồn (PLCTRTN) là một trong những giải pháp quan trọng, có nhiều lợi ích và mang nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội, môi trường, tài nguyên và càng quan trọng hơn đối với các đô thị lớn của quốc gia. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong thời gian qua có tốc độ phát triển kinh tế rất ấn tượng, nhưng cũng làm tăng lượng CTRSH rất lớn, đe dọa chất lượng cuộc sống của người dân và sự phát triển bền vững của khu vực. Cụ thể tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh tại các tỉnh trong vùng này khoảng 5.283 tấn/ngày trong khi lượng chất thải rắn thu gom mỗi ngày của ĐBSCL chỉ ở mức 3.656 tấn/ngày (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Do đó, việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn là điều cần thiết mặc dù tốn rất nhiều chi phí. Hiện nay, mỗi hộ gia đình chỉ đóng khoảng 20.000đồng/tháng cho khoản này. Ở mức phí này, Chính phủ đang phải thực hiện chính sách bù lỗ với số tiền tương đối lớn. Đây sẽ là một gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong khi hộ gia đình chính là những người phải chịu trách nhiệm cho việc phát sinh lượng lớn chất thải sinh hoạt theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Do đó, ĐBSCL phải xem xét tính khả thi và mức sẵn lòng tham gia của người dân để đảm bảo tính hiệu quả khi triển khai thực hiện. Theo đó, một chương trình cải thiện việc quản lý chất thải rắn bao gồm việc đầu tư trang thiết bị để phân loại, tập huấn hỗ trợ phân loại và các chi phí liên quan khác sẽ được thực hiện.
Một số nghiên cứu đã được thực hiện ở các nước đang phát triển đã chỉ ra rằng mức sẵn lòng chi trả, độ tuổi, thu nhập, quy mô hộ gia đình, nghề nghiệp và trình độ học vấn ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để dịch vụ quản lý chất thải rắn (Alta & Deshaz, 1996; Niringiye & Omortor, 2010; Niringiye (2010); Rahji & Oloruntoba, 2009; Yusuf et al., 2007). Rahji và Oloruntoba (2009) đã áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) để dự đoán các yếu tố quyết định mức độ sẵn sàng chi trả của hộ gia đình cho dịch vụ quản lý chất thải rắn ở Ibadan, Nigeria. Nghiên cứu chỉ ra rằng một số yếu tố như thu nhập, tài sản sở hữu, nghề nghiệp và số tiền thanh toán ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả. Nghiên cứu của Alta and Deshaz (1996) áp dụng CVM để xác định nhu cầu của các hộ gia đình đối với việc cải thiện quản lý chất thải rắn ở Gujarwala, Pakistan và nhận thấy rằng số lượng chất thải do các hộ gia đình tạo ra, quy mô hộ gia đình và độ tuổi ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trả. Tương tự, nghiên cứu của Niringiye and Omortor (2010) về các yếu tố quyết định mức độ sẵn lòng chi trả cho việc quản lý chất thải rắn ở Uganda, sử dụng CVM, kết quả chỉ ra rằng tuổi tác ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trả. Yusuf et al. (2007) cũng sử dụng CVM để ước tính giá trị kinh tế của việc cải thiện quản lý chất thải gia đình ở bang Oyo, Nigeria đã xác định được giá dịch vụ quản lý chất thải, độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập và quy mô hộ gia đình ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả. Do đó, nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ đóng góp vào các tài liệu hiện có về việc áp dụng CVM trong việc thu thập thông tin về ưu đãi của các hộ gia đình sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ quản lý CTRSH ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, mức sẵn lòng chi trả được xác định cũng có thể được sử dụng để xác định lợi ích của việc tham gia vào các công ty tư nhân trong việc quản lý chất thải dân cư. Điểm thú vị nhất là sự so sánh giữa hai phương pháp tiếp cận được kỳ vọng làm tăng tính chính xác cho kết quả ước lượng về mức sẵn lòng trả.
Bên cạnh đó, về mặt thực tiễn, ĐBSCL đang đã phải đối mặt với vấn đề làm thế nào quản lý CTRSH tốt nhất. Hiện nay, cơ quan chính phủ đóng vai trò giám sát, trong khi công ty tư nhân chịu trách nhiệm thu gom và xử lý CTRSH. Do chỉ có một vài công ty tư nhân tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ quản lý CTRSH nên các công ty này ít có động lực để cung cấp dịch vụ theo yêu cầu về chất lượng của người tiêu dùng, các hộ gia đình, vì công ty tư nhân không có sự cạnh tranh kinh tế để làm như vậy. Nghiên cứu này cung cấp thông tin về mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc quản lý CTRSH, vốn liên quan đến nhiều công ty tư nhân để cải thiện tình hình quản lý CTRSH hiện tại ở ĐBSCL. Vì vậy, việc thực hiện đề tài ước tính mức sẵn lòng trả của người dân cho sự cải thiện chất lượng của dịch vụ quản lý CTRSH là hết sức cần thiết. |