Ảnh minh họa: Internet
Hồ Dầu Tiếng là hồ chứa lớn ở Việt Nam với diện tích lưu vực 270 km2 , sức chứa 1,58 tỷ m3 , ở tọa độ 11o12’ đến 12o00’ vĩ độ Bắc và 106o10’ đến 106o30’ kinh độ Đông, thuộc 3 tỉnh Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh, được ngăn dòng ở thượng lưu sông Sài Gòn. Lưu vực hồ nằm trên một địa hình chuyển tiếp, từ thượng lưu phía Đông hồ là đồi thấp và thoải dần về phía hai dòng sông chính (sông Sài Gòn và sông Bà Hảo). Hàng năm, hồ Dầu Tiếng cung cấp một nguồn lợi thủy sản khá lớn cho cư dân trong vùng từ việc nuôi trồng và khai thác đánh bắt cá tự nhiên.
Họ cá chép Cyprinidae có số lượng loài lớn nhất trong các họ cá sống ở vùng nước ngọt, chiếm gần ½ tổng số lượng loài cá nước ngọt trong cả nước. Đặc điểm chung của họ cá chép là toàn thân phủ vẩy. Phần lớn các loài trong họ cá chép có giá trị kinh tế và là đối tượng nuôi, có nhiều công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh sản và dinh dưỡng của các loài thuộc họ cá này. Trong số đó, cá Dảnh Nam Bộ Puntioplites proctozysron thuộc loài có kích thước trung bình là đối tượng cá kinh tế, chất lượng thịt ngon được người tiêu dùng ưa thích, đang trở thành loài cá nuôi mới quan trọng ở vùng Đông Nam Bộ, hiện đang giảm sút số lượng do khai thác thường xuyên. Đến nay chưa có nghiên cứu về đặc tính sinh học và dinh dưỡng của loài cá này. Trong những năm gần đây, do nhiều tác động của con người như hoạt động công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, khai thác cát, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu đi vào hồ ngày càng gia tăng làm cho nguồn nước hồ bị ô nhiễm có ảnh hưởng đến sự suy giảm nguồn lợi cá, trong đó có cá Dảnh Nam Bộ. Vì vậy, mục đích nghiên cứu tương quan chiều dài và trọng lượng về đặc tính dinh dưỡng cá Dảnh Nam Bộ ở hồ Dầu Tiếng không những làm cơ sở dữ liệu góp phần cho việc nuôi và định hướng sinh sản nhân tạo, mà còn phục hồi và phát triển loài cá kinh tế này là cần thiết.
Kết quả phân tích 244 mẫu cá trong các đợt thu mẫu từ tháng 6/2019 đến tháng 11/2020, cá Dảnh Nam Bộ là loài ăn tạp thiên về thực vật. Hệ số tương quan chiều dài ruột và chiều dài tổng (RLG) trung bình của cá Dảnh Nam Bộ là 2,021. Hệ số này biến động theo sự gia tăng chiều dài và trọng lượng của cơ thể cá. Hệ số LRG nhỏ nhất là 1,484 và lớn nhất là 2,98. Tương quan chiều dài và trọng lượng cá Dảnh Nam Bộ thể hiện bởi phương trình W = 0,0221L2,904 với hệ số tương quan khá chặt chẽ R 2 = 0,9426. Hệ số tăng trưởng trung bình của cá Dảnh Nam Bộ là 2,758; nhỏ nhất là 2,483 và cao nhất là 3,014 (hệ số này thay đổi theo mùa mưa và mùa khô). Độ no của cá Dảnh Nam Bộ chiếm tỷ lệ cao nhất ở bậc 2 và 3 lần lượt là 9,52% và 10,00%. Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Dảnh Nam Bộ gồm có 6 loại thức ăn là: Giáp xác, giun, các loài tảo, mảnh vụn hữu cơ, vỏ cây mục và côn trùng nước. Trong đó, các loài tảo và mảnh vụn hữu cơ là loại thức ăn chiếm tỉ lệ cao trong phổ dinh dưỡng của cá. |