Chi Du sam (Keteleeria Carrière) là chi ít loài thuộc họ Thông Pinaceae, trên thế giới chi này được chấp nhận chỉ có 3 loài: Keteleeria evelyniana Mast, Keteleeria davidiana (Bertrand) Beissn và Keteleeria fortune (A. Muray bis) Carriere. Theo Tạp chí Thực vật Trung Quốc, chi Du sam núi đất ở Trung Quốc có 5 loài, ngoài 3 loài trên còn có Keteleeria hainanensis Chun & Tsiang và Keteleeria pubescens W. C. Cheng & L. K. Fu. Theo The Plant list, chi Keteleeria chỉ có 3 loài, trong đó loài K. hainanensis Chun & Tsiang là syn. K. evelyniana Mast và K. pubescens W.C. Cheng & L.K. Fu là syn. của K. davidiana (Bertrand) Beissn. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Hiệp, Nguyễn Đức Tố Lưu và Võ Văn Chi, chi này có 2 loài là K. evelyniana Mast và K. davidiana (Bertrand) Beissn.
Du sam núi đất là cây gỗ cao 30-35 m, đường kính ngang ngực đến 1-1,4 m, tán cây nhỏ hình tháp. Cành non có lông, chồi hình trứng, có lông hay nhẵn; cành mang nón hạt xòe ngang sau hướng lên. Lá mọc xoắn ốc dày, xếp thành hai dãy, chụm lại ở đầu cành, hình dải thẳng, dài 3- 6cm, rộng 0,2-0,4cm, mép lá nguyên. Nón cái mọc đơn độc ở đầu cành, dựng đứng, khi trưởng thành hình trụ dài 12-20 cm, rộng 3-6 cm.Vẩy hình trứng thuôn mỏng, lá vẩy ngắn hình thìa, có mũi nhọn ở đỉnh. Hạt 2 ở mỗi vẩy, hình thuôn tam giác, dài 9-14 mm, rộng 7 mm, mặt trong có vài túi nhựa. Nón xuất hiện tháng 5, 6; hạt chín vào tháng 10-2 năm sau. Có thể tái sinh tự nhiên từ hạt. Cây thường mọc ở sườn núi ở độ cao 600-1600 m, rải rác trong rừng thường xanh cây lá rộng hoặc hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim. Cây được phân hạng mức độ sẽ nguy cấp (VU). Cây phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc và Lào. Ở Việt Nam, cây phân bố ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Lâm Đồng.
Công dụng: Quả non và rễ cây Du sam núi đất dùng để đòn ngã tổn thương và gãy xương. Dầu hạt làm thuốc trị ho, tiêu đờm và sát trùng. Đã có một số công trình nghiên cứu trên thế giới về thành phần hóa học của loài K. evelyniana. Theo Fu Zhao Hui và cộng sự (2008), 19 hợp chất đã được phân lập từ cành loài này, gồm: (-) epinortrachelogenin, (-)α-conidendrin, cedrisin, dihydrodehydrodicorniferyl alcohol, oxomatairesinol, (-) 7(S)-5-hydroxymatalresinol, vladinol D, E-3-hydroxy-5-methoxy-stibene, resveratrol-3-0-β-D-glucopyranoside, pinocembrin, valillin, hemisceramide, β-sitosterol và β-daucosterol. Theo Wen Jun He và cộng sự (2011), một số hợp chất trong nhóm benzoic acid allopyranoside như keteleeroside A, keteleeroside B, keteleeroside C, cùng với các hợp chất thuốc nhóm lignin glycosides như 3”-demethylicariside E3, isocupressoside B, 3- methoxyisocupressoside B và isomassoniannoside B, biểu hiện hoạt tính chống vi sinh vật kiểm định và gây độc tế bào trên một số dòng tế bào ung thư. Theo nghiên cứu của Phạm Thị Ninh và cộng sự (2014), 3 hợp chất catechin, epicatechin-(4β8’)catechin và β- sitesterol đã được phân lập từ cặn etyl acetat vỏ cây Du sam núi đất thu ở Lâm Đồng. Theo Đỗ Ngọc Đài và Nguyễn Quang Hưng (2011), thành phần hóa học của tinh dầu từ gỗ (gỗ thân xẻ) Du sam núi đất (Keteleeria evelyniana) thu mẫu ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) gồm 21 cấu tử chiếm 98,7% tổng lượng tinh dầu, trong đó các thành phần chính là α-pinene (18,4%), α-copaene (11,6%), β-caryophyllene (41,2%) và β-selinen (13,6%). Theo Đậu Bá Thìn, Đỗ Ngọc Đài và Nguyễn Quang Hưng (2014), các tác giả công bố thành phần hóa học của tinh dầu Du sam núi đất từ gỗ và lá thu mẫu tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh (mẫu thu 2009), trong đó tinh dầu từ gỗ vẫn là thành phần tinh dầu mà Đỗ Ngọc Đài và Nguyễn Quang Hưng công bố từ trước (2011) gồm α-pinene (18,4%), α-copaene (11,6%), βcaryophyllene (41,2%), β-selinen (13,6%) và bổ sung thành phần tinh dầu từ lá của loài Du sam nói trên, 27 cấu tử trong tinh dầu từ lá chiếm 98,6% tổng lượng tinh dầu đã được xác định, các thành phần chính tương tự như ở gỗ với α-pinene (20,3%), α-copaene (18,3%), β-caryophyllene (30,5% và β-selinene (14,2%).
Trong các bộ phận của cây Du sam núi đất, hàm lượng tinh dầu từ nón là cao nhất (1,56%), tiếp đến là ở lá (0,10%), cành (0,06%) và thấp nhất ở rễ (0,014%) (theo nguyên liệu khô không khí). Tinh dầu có màu vàng nhạt, nhẹ hơn nước.
Thành phần hóa học tinh dầu từ các bộ phận của loài Du sam núi đất được xác định bằng phương pháp sắc ký khối phổ (GC/MSD), 42 cấu tử từ tinh dầu lá loài Du sam núi đất đã được xác định, những thành phần chính của tinh dầu gồm: α-pinene (27,07%), β-pinene (17,85%), limonene (8,57%), β-caryophyllene (13,48%), β-phellandrene (6,05%); 41 cấu tử từ tinh dầu cành loài Du sam núi đất đã được xác định, những thành phần chính của tinh dầu gồm: α-pinene (16,85%), β-pinene (8,26%), limonene (16,29%), β-caryophyllene (25,18%), β-phellandrene (9,57%), α-humulene (4,98%); 41 cấu tử từ tinh dầu rễ loài Du sam núi đất đã được xác định, những thành phần chính của tinh dầu gồm α-pinene (24,73%), β-caryophyllene (43,84%), αhumulene (8,83%); 23 cấu tử từ tinh dầu nón loài Du sam núi đất đã được xác định, những thành phần chính của tinh dầu gồm: α-pinene (56,56%), β-pinene (21,73%), myrcene (6,82%), germacrene D (4,06%). Đây là báo cáo đầy đủ về thành phần hóa học từ các bộ phận có tinh dầu của loài Du sam núi đất, trong đó các dẫn liệu về thành phần hóa học của tinh dầu từ cành, rễ và nón loài Du sam núi đất lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam. |