Nghiên cứu [ Đăng ngày (05/10/2022) ]
Ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Măng (Elopichthys bambusa Richardson, 1844) từ giai đoạn cá bột lên cá giống
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Hải Sơn, Võ Văn Bình, Nguyễn Hữu Quân (Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc) và Đặng Thị Lụa (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I) thực hiện.

Cá Măng Elopichthys bambusa (Richardson, 1844) thuộc họ cá Chép (Cyprinidae), phân họ cá Tuế (Leuciscinae. Trên thế giới, cá Măng phân bố rộng ở vùng Bắc Á, từ sông Amur ở nước Nga tới sông Lam vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Ở Việt Nam, cá Măng sống trong các hệ thống sông, hồ lớn ở các tỉnh phía Bắc, trong các vực nước phụ cận từ vùng đồng bằng tới miền núi. Giới hạn thấp nhất của loài cá này về phía Nam là sông Lam - Nghệ An. Cá Măng cò thân hình dài, bơi lội rất khỏe, tính hung hãn, cá sống ở tầng giữa và tầng trên của vực nước. Đây thuộc loài cá dữ điển hình, thức ăn chủ yếu là các loài tôm, cá nhỏ. Với kích thước lớn, thịt thơm, ngon nên cá Măng có giá trị kinh tế khá cao (150.000-250.000 đồng/kg tùy thuộc vào kích cỡ) và được người tiêu dùng ưa thích. Do cá Măng đã bị khai thác quá mức nên nhiều năm gần đây rất ít khi bắt gặp loài cá này trong tự nhiên. Hiện nay, cá Măng trở thành loài cá bản địa quý hiếm, đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã xếp cá Măng ở mức đe dọa bậc NT (gần với nguy cơ bị đe dọa). Liên minh bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên thế giới (IUCN 2012) đã xếp cá Măng ở cấp độ DD (data deficient) - thiếu dữ liệu về tình trạng hiện nay để cung cấp thông tin.

Thí nghiệm nuôi cá Măng (Elopichthys bambusa) từ cá bột lên cá giống ở mật độ, thức ăn khác nhau được thực hiện từ tháng 6-12/2020 tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc nhằm xác định được mật độ, loại thức ăn phù hợp trong ương, nuôi cá Măng giống.

Kết quả cho thấy cá Măng bột nuôi ở mật độ 4-5 con/lít có tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng cao hơn so với ương ở mật độ 6-7 con/lít. Với cá giống, nuôi ở mật độ 0,6 con/lít đạt tỉ lệ sống, tăng trưởng cao hơn so với nuôi ở mật độ 1 con và 1,2 con/lít. Sử dụng thức ăn 100% động vật phù du và thức ăn 60% động vật phù du kết hợp 40% trùn chỉ để ương cá bột cho tỉ lệ sống, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn khi sử dụng thức ăn 60% động vật phù du kết hợp với 40% bột cá (55% protein). Trong giai đoạn nuôi cá giống, sử dụng thức ăn là cá bột cá Mè, trùn chỉ và cá bột cá Mè (70%) kết hợp với 30% trùn chỉ có tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cao hơn so với nuôi cá bằng thức ăn 70% cá bột cá Mè kết hợp với 30% thức ăn nuôi ấu trùng tôm sú (45% protein).

ctngoc
Theo Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2022, 20(4): 456-466
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->