Nghiên cứu do các tác giả Trần Thị Yến Nhi, Đào Tấn Phát, Trần Thị Kim Liên, Nguyễn Duy Đan, Ung Thanh Đạt, Huỳnh Bảo Long, Mai Huỳnh Cang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn Ây, Huỳnh Xuân Phong và Trần Ngọc Quyển thực hiện.
|
Bưởi da xanh (Citrus maxima Burm Merr) là loại cây ăn quả thuộc họ cam quýt, có tên khoa học là Citrus maxima thuộc chi Citrus trong họ Rutaceace, bắt nguồn từ Đông Nam Á (nhiều nhất ở Thái Lan và Malaysia). Vỏ bưởi chủ yếu bao gồm tinh dầu nằm trong lớp vỏ ngoài giống như các loại trái cây có múi khác thuộc chi Citrus (cam quýt): limonen, pinen, linalol, geranoid, xitral,… và glucosid đặc biệt là hesperidin, naringin, limonin. Bên cạnh đó, còn chứa các sắc tố thuộc nhóm flavonoid. Ngoài ra, vỏ bưởi còn chứa nhiều pectin kể cả chất nhầy bao quanh vỏ hạt, bản chất là một chất xơ tan trong nước và làm tăng độ nhớt. Trong vỏ bưởi tươi pectin chiếm 1–2% và 0,5–1% trong vỏ bưởi khô. Men tiêu hóa amylase, enzyme peroxydase, vitamin A, C (130mg–170mg/100g bưởi tươi),... giúp tăng cường và duy trì độ đàn hồi của động mạch, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, bảo vệ cơ thể chống lại stress, các bệnh liên quan với hen suyễn và viêm khớp.
Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đối lưu đến hiệu quả duy trì các thành phần có hoạt tính sinh học trong vỏ bưởi da xanh, thể hiện qua phenolic tổng số (TPC), flavonoid tổng số (TFC), khả năng trung hòa gốc tự do bằng DPPH và ABTS . Thông qua đó, nhiệt độ sấy vỏ bưởi phù hợp để hạn chế sự giảm thấp các thành phần này được đề xuất thất thoát khi xử lý nhiệt vỏ bưởi. Kết quả khảo sát cho thấy các hoạt chất có hoạt tính sinh học giảm khoảng 50% do tác động của nhiệt độ sấy và 80% TPC giảm sau chiết tại 60℃ (19,21 ± 3,21%) và 65℃ (18,99 ± 0,87%). Nhiệt độ tác động đến các thành phần trong nhóm TFC và kéo theo giá trị DPPH, ABTS không lớn.
|