Dược liệu được người dân Việt Nam sử dụng nhiều đời nay trong việc phòng và điều trị bệnh. Nhưng dược liệu lại là môi trường cung cấp dinh dưỡng thuận lợi cho vi nấm dễ dàng phát triển, đặc biệt là trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam - nhất là khu vực miền Nam Việt Nam. Khí hậu đặc trưng của miền Nam Việt Nam là khí hậu cận xích đạo gió mùa với nhiệt độ quanh năm cao cùng với lượng mưa hàng năm lớn, nên độ ẩm tương đối cao là điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi nấm. Do đó, việc khảo sáy tình hình nhiễm nấm trên dược liệu ở một số cơ sở bán lẻ là điều cần thiết, nhằm cung cấp thông tin cảnh báo đối với người tiêu dùng trong việc lựa chọn và sử dụng dược liệu.
Đối tượng nghiên cứu gồm 58 mẫu dược liệu thuộc 8 loại dược liệu được thu mua ở các cửa hàng bán lẻ dược liệu được cơ sở bán lẻ đóng gói trong bịch nilon kín với trọng lượng 100 g. Thử nghiệm được tiến hành ngay sau khi thu thập mẫu dược liệu. Các cửa hàng được mã hóa gồm: A, B, C, E, F, G, H và I.

Hình 1. Các loại dược liệu khảo sát.
Độ ẩm của dược liệu được xác định bằng phương pháp sấy khô theo hướng dẫn trong Phụ lục 9.6 Dươc điển Việt Nam (DĐVN V). Mức độ nhiễm vi nấm của dược liệu được xác định bằng phương pháp trải đếm trên đĩa thạch theo hướng dẫn trong Phụ lục 13.6 DĐVN V và Trần Linh Thước (2007). Nấm mốc được định danh bằng phương pháp hình thái học.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 8 loại dược liệu khảo sát, hắc kỷ tử chưa được xây dựng chuyên luận riêng trong DĐVN V, do đó không có mức giới hạn độ ẩm để đối chiếu. Dược liệu hắc kỷ tử mua từ 3 cơ sở A, B và I có độ ẩm tương ứng là (14,0 đến 15,2 và 18,2) %, đều vượt quá giới hạn 13 % so với các dược liệu cùng dạng như câu kỷ tử và ngũ vị tử.
Trong 55 mẫu dược liệu còn lại, có 19 mẫu (chiếm 34,5 %) vượt quá giới hạn về độ ẩm cho phép theo các chuyên luận riêng về dược liệu trong DĐVN V. Có 36,2 % mẫu dược liệu được khảo sát có mức nhiễm vi nấm vượt quá 500 CFU/g (giới hạn cho phép của các thuốc có nguồn gốc dược liệu theo DĐVN IV). Tổng số vi nấm đếm được gồm nấm mốc và nấm men. Dược liệu nhiễm vi nấm mức độ cao gồm hắc kỷ tử, long nhãn, nhàu và ngũ vị tử. Đáng chú ý là long nhãn với 6/8 mẫu có độ nhiễm vi nấm vượt quá 500 CFU/g, trong đó có mẫu cơ sở C và E có độ nhiễm rất cao vượt quá 104 CFU/g – tương ứng là (34 x 104 và 12,3 x 103). Một số mẫu dược liệu có độ nhiễm dưới 10 CFU/g nhưng độ ẩm cao hơn giới hạn quy định và có một số dấu hiệu bất thường về cảm quan (câu kỷ tử, hắc kỷ tử cơ sở I) gợi ý tình trạng pH sản phẩm thay đổi sử dụng thuốc nhuộm và/hoặc hóa chất để xông/tẩm dược liệu nhằm tăng cảm quan và kéo dài thời gian bảo quản,…
Có hơn 60 % mẫu dược liệu khảo sát nhiễm nấm men. Trong 35 mẫu dược liệu nhiễm nấm men, có 8/8 mẫu ngũ vị tử, 5/7 mẫu câu kỷ tử, 7/8 mẫu nhàu và 6/8 mẫu long nhãn. Đáng chú ý là long nhãn cơ sở C nhiễm nấm men với mức độ rất cao 34 x 104 CFU/g và long nhãn cơ sở E nhiễm đồng thời nấm men và nấm mốc với tỷ lệ cao 12 x 103 CFU/g và 300 CFU/g.
Có 65 % mẫu dược liệu có sự hiện diện của nấm mốc, trong 38 mẫu dược liệu nhiễm nấm mốc có 25 mẫu dược liệu nhiễm đồng thời cả nấm mốc và nấm men. Vơi nấm mốc, dược liệu nhiễm chi Aspergillus với tỷ lệ cao nhất 36,2 %, tiếp đến là các vi nấm sợi màu 25,9 % và Penicillium chiếm 17,2 %. Kết quả khảo sát về tình trạng nhiễm nấm ở dược liệu khá tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Đinh Nga và cộng sự, cho thấy dược liệu dạng quả gồm táo tàu (đại táo) và câu kỷ tử có tỷ lệ nhiễm nấm men cao và Aspergillus, Penicillium là các chi nấm mốc phổ biến được tìm thấy trong các mẫu dược liệu.
Nhóm nghiên cứu đề xuất mở rộng khảo sát ở mức độ nhiễm nấm trên 8 dược liệu ở nhiều cơ sở bán lẻ khác nhằm góp phần cung cấp thông tin cảnh báo về chất lượng dược liệu với người tiêu dùng. Tiếp đó, cần tiến hành thêm các nghiên cứu để đánh giá mức độ nhiễm độc tố nấm mốc của dược liệu.
|