Mức độ xâm nhập mặn của nước biển vào đất liền ngày càng gia tăng trong những năm gần đây, đã ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đồng thời tăng nồng độ mặn trong đất (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2016). Mặn là một trong những yếu tố phi sinh học ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giai đoạn sinh trưởng, sinh lý và hạn chế năng suất của cây trồng (Nawaz et al., 2010). Do đó, độ mặn hiện tại là một thách thức lớn đối với an ninh lương thực ở các nước sản xuất nông nghiệp, trong đó có Việt Nam. Trước tình hình đó, người dân cần chuyển đổi những mô hình canh tác khác phù hợp với khu vực sinh sống. Những vùng đất có nguy cơ thiếu nước sản xuất lúa vào mùa khô, đất nhiễm mặn nhẹ(< 4 g/L) nên chuyển đổi sang các cây trồng cạn như bắp (ngô), đậu nành (đậu tương), mè (vừng) để nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh tế trên cùng diện tích đất so với trồng lúa.
Ảnh minh họa: Internet
Mè là loại cây ngắn ngày phù hợp với điều kiện nhiễm mặn nhẹ và khô hạn (Nguyễn Văn Chương & Võ Văn Quang, 2013). Là cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều quốc gia quan tâm và có định hướng phát triển do có hàm lượng dầu cao, và chất lượng tốt. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân canh, xen canh, ít sử dụng nước tưới (Nguyễn Văn Chương & Võ Văn Quang, 2013). Nguyễn Hồng Huế và ctv. (2020) nhận định khi tưới mặn mức 2‰ vừng đen Ô Môn bị giảm sinh khối khô thân, rễ và hạt trên cây so với đối chứng. Giống mè ADB1 được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam phục tráng từ giống mè địa phương của Đồng bằng sông Cửu Long, và giống mè đen hai vỏ Bình Thuận được Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc phục tráng từ giống mè địa phương của tỉnh Bình Thuận theo phương pháp phục tráng cây trồng tự thụ thuộc Tiêu chuẩn ngành (Nguyễn Văn Chương & Võ Văn Quang, 2013). Hai giống mè này có khả năng chống chịu sâu ăn lá, bệnh thối cây và khả năng chịu hạn cao hơn giống địa phương, thích nghi rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất như cát pha, đất xám bạc màu, đất thịt, phù sa. Năng suất cao, đạt 1,25 tấn/ha trên vùng đất xám bạc màu (Long An và An Giang) và từ1,75-2,0 tấn/ha ở vùng đất pha thịt, phù sa (An Giang, Đồng Tháp, và Vĩnh Long) (Nguyễn Văn Chương & Võ Văn Quang, 2013). Cho đến nay, các nghiên cứu về ngưỡng chịu mặn cũng như khả năng sinh trưởng, thích nghi của hai giống mè này trước tình hình xâm nhập mặn vẫn còn hạn chế. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá tiềm năng sinh trưởng của hai giống này khi tưới nước sông nhiễm mặn, từ đó giúp nâng cao khả năng mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp ở ĐBSCL và hiệu quả sử dụng đất nhiễm mặn tốt hơn.
Sự tích lũy mặn trong đất lúa sau khi canh tác mè tưới nước sông nhiễm mặn 2-4‰ thể hiện ECe, Na+ tích lũy trong đất càng nhiều khi độ mặn trong nước tưới càng cao. Sau thời gian tưới mặn 15 ngày ở giai đoạn 30 NSKG, mức độ mặn 2-4‰ chưa ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, chiều dài rễ, số trái, khối lượng hạt, và khối lượng 1.000 hạt của hai giống mè ADB1 và hai vỏ Bình Thuận khi thu hoạch. Đất sau khi trồng mè khi tưới nước mặn 4‰ đã có dấu hiệu bị nhiễm mặn (ECe>4 mS/cm). Việc đánh giá thêm với nhiều mức nồng độ mặn cao hơn, cũng như thời điểm stress mặn dài hơn là cần thiết để có kết luận một cách toàn diện về khả năng chịu mặn của hai giống mè ADB1 và hai vỏ Bình Thuận trước khi đưa ra khảo nghiệm ngoài thực địa. Bên cạnh đó, việc đưa ra giải pháp rửa mặn hoặc sử dụng đất nhiễm mặn >4 mS/cm cho vụ mùa tiếp theo cũng cần thiết. |