Nghiên cứu [ Đăng ngày (27/04/2021) ]
Sự phân bố polyphenol tổng và trích ly hợp chất polyphenol từ vỏ trắng bưởi năm roi với sự hỗ trợ của enzyme
Nghiên cứu được thực hiện bởi các tác giả Hoàng Quang Bình, Trịnh Ngọc Thảo Ngân, Hồ Thị Thảo My và Lê Trung Thiên nhằm khảo sát sự phân bố của polyphenol tổng trong trái bưởi và điều kiện trích ly hợp chất polyphenol, naringin, khả năng chống oxy hóa (DPPH) từ phần vỏ trắng của trái bưởi.

Tại Việt Nam sản lượng trồng cây họ có múi khoảng 107.000 ha và 8.000 ha đối với cây bưởi. Vỏ của họ trái cây có múi chiếm khoảng 50% khối lượng trái. Bên cạnh đó, các phần phụ phẩm của trái cây có chứa rất nhiều hợp chất polyphenol. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng hợp chất polyphenol là nhân tố bảo vệ giúp chống lại nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp, béo phì, xơ vữa động mạch, tiểu đường, lão hóa và ung thư. Tuy nhiên, các hợp chất polyphenol phân bố trong các mô bào thực vật ở dạng kết hợp tạo ra các phức chất nên sẽ khó tiêu thụ hoặc tốn nhiều thời gian để phân giải trong cơ thể, đặc biệt phụ phẩm của trái bưởi thường có vị khá đắng khó ăn. Vì vậy để ứng dụng chúng vào lĩnh vực thực phẩm, trước tiên cần trích ly các hợp chất này ra khỏi nguyên liệu thực vật. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát sự phân bố của polyphenol tổng trong trái bưởi và điều kiện trích ly hợp chất polyphenol, naringin, khả năng chống oxy hóa (DPPH) từ phần vỏ trắng của trái bưởi.

Nguyên liệu sử dụng cho nghiên cứu là Bưởi Năm Roi (Citrus Grandis Osbeck) không bị dập nát hay thối hỏng và chế phẩm enzyme Pectinex Ultra SP-L (Novozyme, Đan Mạch) sản xuất từ nấm mốc Aspergillus aculeatus, có hoạt tính lớn hơn hoặc bằng 3800 unit/ml.

Trái bưởi được tách riêng thành từng phần vỏ xanh, vỏ trắng, thịt trái và màng bao thịt trái. Sau đó, từng nguyên liệu được tiến hành phân tích khối lượng và hàm lượng polyphenol tổng số để khảo sát sự phân bổ polyphenol trong các thành phần của trái bưởi. Khả năng chống oxy hóa, hàm lượng naringin và polyphenol của dịch trích được khảo sát dựa trên ảnh hưởng của các yếu tố: tỷ lệ, nhiệt độ thủy phân và thời gian thủy phân của enzyme bổ sung.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phần thịt trái có tỷ lệ phần trăm về khối lượng lớn nhất 48,6%; tiếp theo là phần vỏ trắng chiếm 25,20%, vỏ xanh chiếm 18,70% và màng thịt quả chiếm 7,5%. Tuy nhiên sự phân bố về khối lượng và sự phân bố về polyphenol tổng có khác biệt; cụ thể, phần vỏ trắng chiếm tỷ lệ phần trăm polyphenol tổng là 40,32%, phần vỏ xanh chiếm 25,21%, thịt trái chiếm 22,39% và màng thịt quả chiếm 12,15%.

Phần vỏ trắng (nguồn phụ phẩm của quá trình chế biến bưởi) đã được chọn làm nguyên liệu trích ly polyphenol. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ enzyme Pectinex Ultra SP-L bổ sung, nhiệt độ thủy phân và thời gian thủy phân ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê. Quá trình trích ly có sự hỗ trợ của enzyme Pectinex đạt hiệu quả cao khi thực hiện ở các điều kiện là tỷ lệ enzyme bổ sung là 1 (%), nhiệt độ thủy phân 50 độ C, thời gian thủy phân 1 giờ cho dịch trích có hàm lượng TPC, naringin và khả năng chống oxy hóa lần lượt là 19,48 mg GAE/g chất khô,1,79 mg AAE/g chất khô và 5,85 mg NE/g chất khô.

ttmphuong
Theo Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Tập 1. Số 1. Tháng 03/2021
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->