Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus (Cuvier & Valenciennes, 1844) là đối tượng cá nước ngọt được nuôi phổ biến, có tốc độ tăng trưởng nhanh và chất lượng thịt thơm ngon. Cá vừa có khả năng sử dụng thức ăn thực vật như cỏ, rong tảo, đồng thời có thể sử dụng thức ăn chế biến nên được người dân ưa chuộng. Ở Việt Nam, cá Trắm cỏ được nuôi nhiều ở các tỉnh miền Bắc như: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội... với hình thức nuôi ghép và nuôi đơn trong ao, trong lồng.
Protein trong khẩu phần ăn đã được chứng minh là một thành phần dinh dưỡng không thể thiếu cho sự phát triển bình thường của cá. Một số nghiên cứu trước cho thấy rằng mức độ cao quá hay thấp quá của hàm lượng protein trong thức ăn đều ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng, tình trạng sức khỏe của ruột, thận và gan cá Trắm cỏ. Trong khi mức protein tối ưu trong chế độ ăn có thể cải thiện sự tăng trưởng cũng như vấn đề về sức khỏe của cá. Trong thức ăn của cá Trắm cỏ, protein được sử dụng như là nguồn năng lượng chính đồng thời nó cũng cần thiết giúp cá tăng trưởng.
Với mục tiêu tìm ra được mức protein phù hợp trong thức ăn cho cá Trắm cỏ, nhóm tác giả đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn với các mức protein khác nhau tới sinh trưởng, phát triển của cá giai đoạn nuôi thương phẩm.
Cá thí nghiệm là cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus có khối lượng trung bình 202,66 ±0,99 g/con, có nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1. Thí nghiệm được thực hiện bằng cách bố trí 240 con cá Trắm cỏ hoàn toàn ngẫu nhiên vào 12 giai nuôi (10m3/giai) với mật độ 20 con/giai. Mỗi công thức thức ăn được lặp lại ba lần. Cá được cho ăn 2 lần/ngày (8 giờ và 16 giờ) cho tới khi thỏa mãn.
Sau 90 ngày nuôi, từ cỡ giống thả có khối lượng 202,66 g/con cá đạt khối lượng trung bình 434,33 - 539,30 g/con. Cá sử dụng thức ăn CT3 có hàm lượng protein 25% cho tốc độ tăng trưởng cao nhất (1,07 %/ngày), hiệu quả sử dụng protein của cá với thức ăn là cỏ cao nhất (1,51) và hệ số chuyển hóa thức ăn là tốt nhất trong ba loại thức ăn viên và cỏ. Thức ăn viên và cỏ đều không ảnh hưởng tới tỷ lệ sống, hàm lượng protein, trong cơ thịt cá thí nghiệm. Các chỉ số gan, mật, ruột cá sử dụng thức ăn viên đều cao hơn so với cá ăn cỏ. Nguyên nhân có thể do thành phần dinh dưỡng trong cỏ chất xơ cao, hàm lượng protein thô, cacbonhydrat, lipid thấp, nên cá không có hiện tượng tích mỡ trong cơ thịt và trong ruột. Trái lại cá sử dụng thức ăn viên hàm lượng dinh dưỡng như protein, lipid và tinh bột cao hơn, dẫn đến hệ số ruột của cá ăn thức ăn viên cao hơn so với ăn cỏ.
Kết quả nghiên cứu này bước đầu cho thấy thức ăn CT3 (25% protein) phù hợp và có thể sử dụng thay thế cỏ trong giai đoạn nuôi thương phẩm cá trắm. |