Nhiều công nghệ đã được ứng dụng hiệu quả vào sản xuất, kinh doanh
Theo số liệu thống kê, Chương trình 592 đã hỗ trợ hoàn thiện 86 quy trình công nghệ/dây chuyền thiết bị/ phần mềm; xây dựng, ban hành 26 bộ tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm; phát triển được 36 mô hình trình diễn công nghệ và mô hình sản xuất thương mại các sản phẩm; 58 sản phẩm được thương mại hóa đạt kết quả tốt; đào tạo được 60 cán bộ kỹ thuật, và bồi dưỡng, tập huấn cho gần 600 người triển khai công nghệ của dự án. Hiệu quả của các dự án được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể sau:
Giúp nâng cao tiềm lực KH&CN của đơn vị chủ trì: thông qua việc triển khai dự án hoàn thiện công nghệ, phát triển các mô hình ứng dụng KH&CN, khóa đào tạo, tập huấn, nhiều tổ chức KH&CN đã nâng cao tiềm lực (nhân lực, vật lực), hình thành bộ phận nghiên cứu và triển khai (R&D) trong doanh nghiệp như Công ty Dược phẩm CPC1 (Hà Nội), HTX Linh Dược Sơn (Hòa Bình), Công ty TNHH MTV Traphacosapa, Công ty cp rượu bia nước giải khát Aroma... Nhiều doanh nghiệp đã dành kinh phí đầu tư cho KH&CN với mức đầu tư tăng hàng năm; chủ động hợp tác, liên doanh, liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học để cùng giải quyết những vấn đề KH&CN của doanh nghiệp.
Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội: 100% các kết quả KH&CN, quy trình công nghệ được ứng dụng vào thực tiễn, sản xuất ra các sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao, thương mại hóa tốt trên thị trường, đóng góp lớn vào tăng trưởng của doanh nghiệp, như sản phẩm gốm sứ của Công ty TNHH Quang Vinh (dự án Hoàn thiện quy trình công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất gốm sứ mỹ nghệ cao cấp ở quy mô công nghiệp); sản phẩm thuốc tiêm Palonosetron, Carbetocin và thuốc khí dung Budesonid của Công ty Dược phẩm CPC1 (dự án Hoàn thiện quy trình sản xuất thuốc tiêm Palonosetron, Carbetocin và thuốc khí dung Budesonid quy mô công nghiệp sử dụng công nghệ BFS - Blow-Fill-Seal); sản phẩm maltodextrin, nha maltose và bột protein của Công ty CP thực phẩm Minh Dương (dự án Hoàn thiện công nghệ sản xuất một số sản phẩm (maltodextrin, nha maltose và bột protein) từ gạo ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm)…
Hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN: Chương trình 592 đã hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ ra sản phẩm mới: 15 doanh nghiệp; hỗ trợ chuyển giao công nghệ từ tổ chức KH&CN công lập sang doanh nghiệp để phát triển doanh nghiệp KH&CN, đạt mục tiêu kép vừa nâng cao năng lực cho tổ chức KH&CN công lập vừa phát triển doanh nghiệp KH&CN: 05 tổ chức; hỗ trợ trực tiếp tổ chức KH&CN công lập để thành lập doanh nghiệp KH&CN: 6 doanh nghiệp.
Góp phần nâng cao năng lực tự chủ của tổ chức KH&CN công lập: một số dự án do tổ chức KH&CN chủ trì triển khai thành công đã tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng thương mại hóa tốt, mang lại nguồn thu cho tổ chức KH&CN, giúp nâng cao năng lực tự chủ cho tổ chức KH&CN công lập, như các sản phẩm giống cây dược liệu thuộc dự án Hoàn thiện công nghệ nhân giống In vitro và nuôi trồng một số cây thuốc quý có giá trị kinh tế cao.
Góp phần tạo công ăn, việc làm cho người dân: các dự án đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động của địa phương, nơi đơn vị chủ trì triển khai dự án. Tổng hợp từ các dự án cho thấy, đã tạo được việc làm mới cho hàng trăm lao động tại các địa phương - một kết quả rất có ý nghĩa đối với người dân ở địa bàn thực hiện dự án.
Những vướng mắc cần tháo gỡ
- Thời gian thực tế triển khai các dự án hỗ trợ của Chương trình ngắn nên số lượng dự án được hỗ trợ từ Chương trình chưa nhiều, quy mô dự án còn khiêm tốn; nhiều tổ chức, cá nhân đề xuất dự án tham gia nhưng Chương trình lại hết thời gian thực hiện.
- Quy trình, thủ tục xét chọn, tuyển chọn, thẩm định kinh phí, phê duyệt nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đã được cải thiện đáng kể nhưng nhìn chung vẫn còn khá rườm rà, gây tâm lý e ngại cho các tổ chức có ý định tham gia Chương trình; việc áp dụng quy trình quản lý dự án của Chương trình giống với quy trình quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia còn bất cập.
- Một số nội dung quy định tại Thông tư số 19/2016/TT-BKHCN (Thông tư 19) khó triển khai trên thực tế như hỗ trợ trang thiết bị dùng chung cho cơ sở ươm tạo; hỗ trợ sử dụng trang thiết bị, dịch vụ tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (hiện nay phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia chưa có cơ chế cho bên ngoài sử dụng chung thiết bị); hỗ trợ đào tạo, tập huấn tại cơ sở ươm tạo… Nhiều nội dung của Chương trình chưa được triển khai cũng đã ảnh hưởng đến mục tiêu của Chương trình.
- Số lượng lớn đối tượng tham gia Chương trình là doanh nghiệp, đòi hỏi tiến độ phê duyệt dự án nhanh để kịp kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, quy trình xét chọn nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia hiện nay phải qua nhiều bước, gây ra độ “trễ”, không theo kịp với tiến độ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp…
Bài viết được tóm tắt từ bài viết của tác giả Trần Văn Nghĩa - Chủ nhiệm Chương trình 592 , Trần Ngọc Hà - Thư ký BCN Chương trình 592. |