Vitamin D có vai trò quan trọng trong sự phát triển, hoàn thiện, duy trì sự ổn định của xương, răng, nó tham gia vào điều hòa chức năng của một số gen, ngoài ra còn tham gia một số chức năng như: bài tiết của insulin, hormon cận giáp, hệ miễn dịch, phát triển hệ sinh sản, giảm nguy cơ phát triển ung thư vú, đại tràng và tuyến tiền liệt. Thiếu vitamin D gây nên bệnh còi xương ở trẻ em, loãng xương và làm tăng nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi, thai phụ có thể sinh con nhẹ cân, cùng sự tăng trưởng chậm của trẻ chào đời đủ tháng. Nhóm chất này gồm từ D2 đến D7, song quan trọng nhất là D3 (Cholecalciferol) và D2 (ergocalciferol).
Nấm là nguồn cung cấp vitamin D2 tự nhiên. Hàm lượng vitamin D2 trong nấm có thể tăng lên đáng kể nhờ chiếu xạ tia cực tím, khi đó ergocalciferol được hình thành từ ergosterol. Có nhiều phương pháp phân tích vitamin D2 từ trước tới nay như phương pháp thử nghiệm sinh học, phương pháp quang phổ, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu cho thấy UHPLC là một điểm mới hiện nay cho phân tích các vitamin, nó được thông qua như là phương pháp chính thức nhờ khả năng phát h ện, tính chọn lọc cao. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định vitamin D2 từ một số loài nấm lớn ở Việt Nam bằng phương pháp sắc ký lỏng siêu hiệu năng (UHPLC).
Vật liệu nghiên cứu là các mẫu nấm VNTW660 (Ganoderma lucidum), VNTW661 (Daldinia concentrica), VNTW662 (Ganoderma applanatum), VNTW650 (Ganoderma lobatum) được thu hái ở tỉnh Nghệ An vào tháng 08/2015. Mẫu được rửa sạch, để nơi thoáng mát hoặc sấy khô ở 40 độ C.
Các thông số tối ưu cho quá trình chạy sắc ký gồm: Cột C18 (100 × 2,1 mm; 2,7 μm); pha động 100% MeOH; thể tích tiêm mẫu: 5 μl; tốc độ dòng: 0,3 ml/phút; bước sóng đầu dò DAD đo ở 265 nm và nhiệt độ cột là 30 độ C. Phương trình đường chuẩn cho phép xác định giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng vitamin D2 lần lượt là 0,0064 μg/g và 0,0195 μg/g.
Nghiên cứu đã xác định được điều kiện tối ưu xác định vitamin D2 bằng phương pháp UHPLC cho giới hạn phát hiện (LOD) là 0,0064 μg/g và giới hạn định lượng vitamin D2 (LOQ) là 0,0195 μg/g. Độ lặp lại thấp (0,72 - 1,03) và độ thu hồi tốt (96,92 - 98,79%) phù hợp với yêu cầu của AOAC, cho thấy phương pháp này là công cụ hữu hiệu để xác định vitamin D2. Hàm lượng vitamin D2 trong các mẫu thực phẩm được xác định với các điều kiện tối ưu và theo phương pháp đường chuẩn đạt từ 6,221-11,755 μg/g. Từ đó cho thấy hàm lượng vitamin D2 trong các mẫu nấm lớn cao hơn so với các mẫu nấm nuôi cấy và nấm ăn. |