Trong nuôi trồng thủy sản, dịch bệnh trong nghề nuôi cá xảy ra quanh năm nhưng cao và nặng nhất là trong giai đoạn giao mùa, điều kiện thời tiết, nhiệt độ thay đổi đột ngột vào mùa mưa, mùa nước đổ. Trong đó, phổ biến là bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra, làm rảnh hưởng lớn đến giai đoạn cá hương, cá giống, và cá nuôi thương phẩm, với tỷ lệ chết có thể lên đến 90%. Bên cạnh đó, bệnh nhiễm trùng máu (bệnh đốm đỏ, xuất huyết,…) do nhóm vi khuẩn Aeromonas sp. cũng gây thiệt hại nghiêm trọng không kém đến những động vật thủy sản nước ngọt như: trắm cỏ, basa, chép, tai tượng,... Mặt khác, chúng còn có thể gây bệnh ở ba ba, cá sấu, bệnh đỏ chân ở ếch, đốm nâu ở tôm càng xanh; tỉ lệ tử vong thường từ 30 - 70%.
Để hạn chế hiện tượng kháng thuốc do sử dụng kháng sinh trong phòng và trị bệnh, ngành thủy sản Việt Nam và thế giới đã khuyến khích dùng các chế phẩm sinh học, vi sinh và thuốc phòng trị bệnh bằng thảo dược để thay thế dần kháng sinh trong ngành nuôi trồng. Nhiều loại cây cỏ có hoạt tính kháng sinh đã được nghiên cứu sử dụng trong phòng và trị một số bệnh trên động vật thủy sản như cỏ mực, cây bàng, cây chó đẻ, xoan,... Tuy nhiên cây bạch hoa xà là loài mới, chưa được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong thủy sản. Plumbagin (2-Methoxy-5- hydroxy-1-4-Napthoquinone), là một napthoquinone tự nhiên có nhiều hoạt tính dược lý khác nhau và kháng sinh chứa trong cây bạch hoa xà. Nó cũng có tính sát trùng, kích thích tiêu hóa. Vì vậy, việc xác định tính kháng khuẩn của thảo dược trong thủy sản như một phương pháp mới và an toàn.
Vật liệu thí nghiệm là chủng vi khuẩn Aeromonas hydrophila và vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập được từ bệnh phẩm cá tra. Lá của cây bạch hoa xà được thu hái tại vườn thảo dược, khoa Dược Điều dưỡng – Trường Đại học Tây Đô. Hóa chất chính được sử dụng trong nghiên cứu gồm: Cồn 70 %, BHIA (Brain Heart Infusion Agar), NA (Nutrien Agar), NB (Nutrien Broth).
Bạch hoa xà được chiết xuất bằng các phương pháp: (i) Đun trong nước cất 98 độ C, (ii) ngâm trong cồn 70% trong 3 ngày và (iii) ngâm trong cồn 70% trong 6 ngày. Tính kháng khuẩn của dịch chiết bạch hoa xà được xác định theo phương pháp khếch tán trên thạch (dựa vào vòng kháng khuẩn) đối với vi khuẩn Aeromonas hydrophila và Edwardsiella ictaluri được phục hồi, tách ròng và nuôi tăng sinh đạt các mật độ là 10^3 ,10^6 ,10^9 (CFU / mL).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch chiết bạch hoa xà đối với vi khuẩn E.ictaluri luôn cao hơn so với vi khuẩn A.hydrophila. Đối với vi khuẩn E.ictaluri, dịch chiết bạch hoa xà được chiết xuất bằng phương pháp gia nhiệt với tỷ lệ 3:1 cho kết quả vòng kháng khuẩn lớn nhất (15,4 mm) tại mật độ vi khuẩn là 10^9 CFU/ml. Dịch chiết bạch hoa xà khi được chiết xuất bằng phương pháp ngâm với cồn 70% trong 3 ngày với tỉ lệ 3: 1 cho kết quả vòng kháng khuẩn lớn nhất (15,3 – 20,4 mm) tương ứng với mật độ vi khuẩn 10^3 và 10^9. Khi được chiết xuất bằng phương pháp ngâm với cồn 70% trong 6 ngày với tỉ lệ BHX: dung môi (cồn) là 3:1, dịch chiết bạch hoa xà cho kết quả vòng kháng khuẩn E. ictaluri cao nhất (X = 22,7 mm) ở mật độ vi khuẩn 109 CFU/ml. Đối với vi khuẩn Aeromonas hydrophila, phương pháp ngâm lá BHX tươi trong cồn 70% cho ra dịch chiết có tác dụng kháng Aeromonas hydrophila tốt nhất. Vòng kháng khuẩn của dịch chiết trong 6 ngày đạt 19,8 mm ± 0,2 mm đối với vi khuẩn có mật độ 10^9 CFU/ml.
Như vậy, kết quả vòng kháng khuẩn của dịch chiết bạch hoa xà trong thí nghiệm đối với A.hydrophila và E. ictaluri tương đương với kết quả thăm dò hoạt tính kháng khuẩn của một số cây thuốc nam như bàng (18 -19 mm), cỏ mực (11 – 24 mm), ổi (17 – 21 mm), diệp hạ châu xanh (16 – 21 mm). Các kết quả này đã vạch ra hướng mới, nghiên cứu sử dụng các cây thuốc nam trong điều trị bệnh do Aeromonas hydrophila và Edwardsiella ictaluri gây ra trên cá, nhằm thay thế kháng sinh, tránh được tồn dư kháng sinh trong sản phẩm, tốt cho sức khỏe người tiêu dùng. |