Nghiên cứu [ Đăng ngày (22/03/2021) ]
Nghiên cứu đa dạng di truyền và nhận dạng một số giống quýt bản địa của Việt Nam dựa trên trình tự ITS hệ gen nhân
Nghiên cứu được các tác tác giả Nguyễn Thúy Điệp, Lê Thị Thu Trang, Kiều Thị Dung, Đặng Thị Thanh Hà, Trần Đăng Khánh, Lã Tuấn Nghĩa và Khuất Hữu Trung thực hiện.

Ảnh: Internet

Việt Nam là trung tâm phát sinh của nhiều giống cây ăn quả có múi, trong đó có nhiều nguồn gen quýt, cam và bưởi bản địa quý. Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý cần được khai thác và sử dụng, phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội một cách hiệu quả và bền vững.

Ở nước ta, tập đoàn quýt bản địa mới chỉ được thu thập, lưu trữ và đánh giá sơ bộ, rất ít kết quả nghiên cứu, đánh giá, tư liệu hóa và một cách bài bản sâu rộng và có hệ thống. Những dữ liệu thông tin phân tích sâu hơn, ở mức độ phân tử mức độ gen, tiêu bản ADN (DNA barcoding)… của nguồn gen quýt bản địa có ý nghĩa khoa học, thực tiễn rất cao giúp bảo tồn, khai thác, phân loại, xác định nguồn gốc và chủ quyền nguồn gen là nhu cầu có tính cấp thiết và cần được triển khai sớm để đáp ứng đòi hỏi của thực tế.

Việc ứng dụng các chỉ thị ITS xác định vùng gen nhân của loài C. reticulata là công cụ hữu ích, phục vụ cho công tác nhận dạng, lưu giữ bảo tồn nguồn gen và trong các chương trình chọn tạo giống quýt bản địa của Việt Nam

Nguồn gen quýt (C. reticulata) bản địa của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, cần được khai thác và sử dụng, phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội một cách hiệu quả và bền vững. Mười bốn mẫu/giống quýt được thu thập ở 10 tỉnh/thành khác nhau đã được giải trình tự nhờ khuếch đại locus ITS trong hệ gen nhân. Đoạn trình tự ITS của 14 mẫu/giống quýt đã được so sánh trình tự với gen tham chiếu công bố trên NCBI.

Kết quả so sánh cho thấy: độ tương đồng về trình tự nucleotide của các mẫu/giống quýt nghiên cứu và trình tự tham chiếu đã công bố trên NCBI dao động từ 94,0% đến 99,59% với độ bao phủ dao động từ 96-97%. Hệ số tương đồng di truyền của 14 mẫu/giống quýt nghiên cứu dao động từ 93,59 - 99,73%, 14 mẫu/giống quýt nghiên cứu được phân thành 4 nhóm chính. Dựa vào sự khác biệt nucleotide ở một số vị trí trong trình tự vùng ITS, có thể nhận dạng chính xác sáu mẫu/giống quýt đó là quýt Tích Giang (Q4), quýt Hương Cần (Q5), quýt đỏ Ngọc Hội (Q9), quýt Hôi (Q11), quýt ngọt Hà Giang (Q12) và quýt Bộp (Q13). Kết quả này rất có ý nghĩa, phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn gen quýt bản địa của Việt Nam.

nhnhanh
Theo Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, số 24/2020
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->