Nghiên cứu [ Đăng ngày (08/03/2021) ]
Tiềm năng của nấm Trichoderma và Paecilomyces trừ tuyến trùng Meloidoggyne sp. Gây bướu rễ trên cây tiêu
Nghiên cứu do các tác giả: Nguyễn Thị Thanh Xuân, Văng Thị Tuyết Loan, Phạm Văn Quang (Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học An Giang. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh); Trương Thị Ngọc Hân (Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học An Giang. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu và Sản xuất sản phẩm sinh học, Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời).

Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là xuất khẩu. Theo Niên giám Thống kê năm (2018), cả nước có trên 149.900 tấn, giá trị sản xuất đạt 758.800 USD. Tuy nhiên, tuyến trùng Meloidogyne incognnita là loài dịch nguy hiểm cho ngành hồ tiêu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới (trong đó có Việt Nam) do nó ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và liên quan đến nhiều loài nấm gây bệnh khác như Phytothora, Pythium, Fusarium, Rhizoctonia,… gây bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu.

Trong kiểm soát sinh học, nấm ký sinh tuyến trùng được xem là tác nhân kiểm soát tuyến trùng gây hại thực vật tiềm năng cao vì có khả năng thu hút để bắt và tiêu diệt tuyến trùng. Nhiều nghiên cứu gần đây đã xác định hiệu quả của các loại nấm kiểm soát tuyến trùng gây hại như Paecilomyces lilacinus, Verticiliium chlamydosporium Aspergillus spp.,…Theo Nguyễn Văn Nam, khi sử dụng chế phẩm có sự kết hợp của nấm Trichoderma, PaecilomycesMetarhizium để trừ tuyến trùng gây hại trên tiêu, mật số tuyến trùng Meloidogyne spp. Trong rễ giảm 4 lần và trong đất giảm hơn 3 lần sau 4 tháng xử lý. Khi đánh giá hiệu lực phòng trừ tuyến trùng Meloidogyne spp. của phế phẩm chứa Paecilomyces lilacinum và kết hợp với Trichoderma sp. đã xác định có khả năng ký sinh con cái Meloidogyne spp. nhanh và hiệu quả làm giảm 70% con cái và trứng của tuyến trùng Meloidogyne spp. trong rễ cây sau 3 tháng trồng. Nghiên cứu này nhằm xác định hiệu quả của nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. đối với bệnh bướu rễ trên cây tiêu do tuyến trùng Meloidogyne sp. gây ra, làm cơ sở cho việc sản xuất và sử dụng sản phẩm sinh học mới trong phòng trừ tuyến trùng gây hại hồ tiêu.

Tuyến trùng được phân lập từ mẫu đất vùng rễ và rễ cây tiêu bị nhiễm tuyến trùng được thu tại tỉnh Đắk Lắk theo QCVN 01-180:2014/BNNPTNT. Các chủng nấm thuần Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. do Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời cung cấp. Cây tiêu: Giống tiêu sẻ, 2 tháng tuổi.

Phương pháp nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. đối với bệnh bướu rễ tiêu do tuyến trùng Meloidogyne sp. gây nên trong nhà lưới tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời – Chi nhánh Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất sản phẩm sinh học.

Đất cát được lấy tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, được thanh trùng 2 lần ở nhiệt độ 121oC trong 30 phút và mỗi lần cách nhau 24 giờ. Sau đó trộn với phân bò theo tỉ lệ 9:1 và cho vào chậu hựa ươm cây chưa 3 kg đất (kích thước 15 x 30 cm). Chọn hom giống cao khoảng 35 – 45 cm, đồng đều để làm thí nghiệm. Hom giống sau khi mua về sẽ được phun thuốc trừ tuyến trùng 2 lần, mỗi lần cách nhau 4 - 5 ngày trước khi đem trồng vào chậu đất chuẩn bị cho bố trí thí nghiệm. Một ngày sau khi chuyển cây tiêu qua chậu đất sẽ được phun thêm phân bón lá Vitazyme 20 ngày/lần cho đến khi cây ổn định sẽ tiến hành bố trí thí nghiệm. Bào tử nấm được thu và hiệu chỉnh mật số đạt 106 bào tử/ml sau khi đã nuôi cấy 10 – 15 ngày. Mật số bào tử được xác định bằng phương pháp đếm trực tiếp với buồng đếm Neurbauer. Tưới tuyến trùng vào đất xung quanh gốc cây tiêu với mật số 1.500 con/chậu. Sau 2 tuần lây nhiễm tuyến trùng thì tiến hành xử lý theo từng công thức của thí nghiệm. Thí nghiệm được thực hiện với các công thức: (1) Đối chứng: không xử lý thuốc; (2) Nấm Trichoderma sp.; (3) Nấm Paecilomyces sp.; (4) 50% Trichoderma sp. + 50% Paecilomyces sp.; (5) Đối chứng thuốc hóa học (Abamectin + Thiamethoxan). Kết quả cho thấy ba công thức xử lý bằng nấm có hiệu quả giảm tỷ lệ u sần khác biệt ý nghĩa so với công thức thuốc hóa học ở thời điểm 90 ngày sau xử lý (NSXL) lần lượt là 4,1%, 4,0%, 3,6% và 7,6%. Công thức 50% Trichoderma sp. + 50% Paecilomyces sp. có hiệu quả làm giảm mật số tuyến trùng kéo dài đến thời điểm 90 NSXL với mật số tuyến trùng trong đất (163,3 con/gram) thấp hơn 3 lần và trong rễ (11,4 con/gram) thấp hơn 4 lần so với công thức thuốc hóa học. Qua nghiên cứu cho thấy, nghiệm thức 50% Trichoderma sp. + 50% Paecilomyces sp. có hiệu quả phòng trừ tuyến trùng tốt, có thể xem xét sử dụng thay thế thuốc hóa học.

lqnhu
Theo Tạp chí NN & PTNT, Số 9/2020
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->