Ảnh minh họa (Internet)
Trong hệ sinh thái ruộng rau, rầy mềm thường bị nhiều loài thiên địch như Bọ rùa, ruồi ăn rệp, ong ký sinh khống chế số lượng. Trong nhóm thiên địch của rầy mềm thì bọ rùa 6 vạch là loài thiên địch chủ yếu, cả trưởng thành và ấu trùng Bọ rùa đều ăn rầy mềm . Để góp phần tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp sinh học phòng trừ rầy mềm hiệu quả, nhóm tác giả Võ Khoa Chi (Thạc sĩ Bảo vệ thực vật, Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ) và kỹ sư Lê Hoàng Thái đã thực hiện nghiên cứu này.
Nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ từ tháng 1/2018 – 3/2018, nhằm xác định tiềm năng sử dụng Bọ rùa 6 vạch và ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến Bọ rùa 6 vạch. Kết quả cho thấy: Bọ rùa là loài bắt mồi đa thực, phổ mồi của Bọ rùa là sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh da láng, sâu ăn đọt cải, rầy mềm, sâu cuốn lá lúa. Trung bình 1 Bọ rùa trong vòng 1 ngày có thể ăn 35,1 ± 1,7 rầy mềm hoặc 2,1 ± 0,4 con sâu tơ hoặc 1,8 ± 0,4 sâu cuốn lá lúa hoặc 1,2 ± 0,5 sâu khoang hoặc 1,5 ± 0,6 sâu ăn đọt cải hoặc 1,4 ± 0,2 sâu xanh da láng. Trong điều kiện phòng thí nghiệm trung bình 1 con Bọ rùa tuổi 1 ăn được 17,5 ± 4,8 rầy mềm/tuổi, Bọ rùa tuổi 2 ăn được 27,8 ± 8,5 rầy mềm/tuổi, Bọ rùa tuổi 3 ăn được 35,7 ± 10,9 rầy mềm/tuổi, Bọ rùa tuổi 4 ăn được 67,6 ± 14,7 rầy mềm/tuổi. Trung bình một Bọ rùa trưởng thành đực ăn 35,1 rầy mềm/ngày, Bọ rùa cái ăn 50,5 rầy mềm/ngày. Trong điều kiện phòng thí nghiệm thì thuốc Mapy 48 EC, Karate 2.5 EC, Exin 2.0 SC, Radiant 60 SC đều làm giảm mật số của Bọ rùa.
Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Khoa học và Kinh tế phát triển số 04 (Đại học Nam Cần Thơ) |