Ảnh minh họa: Internet
Hoàng liên ô rô lá dày hay còn gọi là hoàng mộc, hoàng liên ô rô, hoàng bá gai, mật gấu... là loài cây bụi thường xanh, cao 2-3 m, thuộc chi Mã hồ (Mahonia Nutt., 1818), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) đã được Fortune Robert mô tả và công bố vào năm 1850 với tên khoa học là Berberis bealei Fortune, 1850. Đến năm 1875, Pynaert Edouard-Christophe đã xác định lại loài này thuộc chi Mahonia và đặt lại tên khoa học là M. bealei (Fortune) Pynaert. Đến nay, họ Hoàng liên gai được xác định có 17 chi và gần 650 loài. Các nghiên cứu về phân bố cho thấy, các loài thuộc họ Hoàng liên gai chủ yếu phân bố ở khu vực ôn đới phía bắc và vùng núi á nhiệt đới. Theo Bùi Văn Hướng và cs (2017), Hoàng liên ô rô lá dày được ghi nhận ở Trung Quốc (An Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông...) và ở Việt Nam (Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu).
Hoàng liên ô rô lá dày có tính thanh nhiệt, nên có tác dụng thanh lọc và loại bỏ độc tố, được sử dụng làm thuốc điều trị các bệnh như tiêu chảy, kiết lỵ, vàng da, viêm loét dạ dày, áp xe, đau răng, viêm họng. Trong tự nhiên, loài này phát triển ở những nơi có lượng mùn ít như dưới các tán rừng thưa, các trảng cây bụi hoặc sườn núi đá vôi, do vậy rất thích hợp để sử dụng trong công tác trồng rừng ở những khu vực nghèo dinh dưỡng hoặc địa hình hiểm trở (như ở các vách núi). Tuy nhiên hiện nay, loài này do bị khai thác và buôn bán quá mức nên đã bị suy giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng. Sách đỏ Việt Nam 2007 xếp Hoàng liên ô rô lá dày ở mức nguy cấp (EN). Ở Việt Nam, chi Mahoniađược biết đến với 3 loài gồm, Mahonia japonica, Mahonia bealei và Mahonia nepalensis, trong đó loài Mahonia bealei- Hoàng liên ô rô lá dày được coi là bị đe doạ ở mức độ cao nhất so với 2 loài còn lại do có số lượng cá thể của nó còn rất ít trong tự nhiên.
Đến nay, các nghiên cứu của Việt Nam về loài này chủ yếu chỉ tập trung vào mô tả hình thái, đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị tài nguyên và các phương pháp nhân giống... mà chưa hề có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm phân tử, hệ thống học phân tử hay phát triển mồi khuếch đại vùng gen đặc hiệu phục vụ cho công tác giám định và bảo tồn loài.
Mã vạch DNA (DNA barcoding) là kỹ thuật hiện đại, sử dụng đoạn DNA chứa thông tin đặc trưng cho loài để phân biệt. Chúng đã trở thành công cụ hiệu quả cho công tác phân loại loài, giám định mẫu vật, đánh giá mối quan hệ di truyền, phát hiện loài mới, quản lý nguồn gốc, xuất xứ, bản quyền của sản phẩm từ sinh vật.
Ở thực vật bậc cao, một số chỉ thị lục lạp (matK, rbcL, psbA-trnH, atpF-atpH...) và gen nhân (ITS, 18S...) đã và đang được sử dụng rộng rãi trong việc phân loại loài, nghiên cứu về mối quan hệ di truyền và nhận dạng loài hay xác định/lựa chọn cây giống trên cơ sở phân tích các trình tự nucleotide. |