Điểm sáng về ứng dụng KH&CN vào sản xuất
Lĩnh vực trồng trọt: các dự án đã chuyển giao được nhiều giống mới, sạch bệnh như: lúa Sơn Lâm 1, Hương Cốm 4, J02…; các loại cây ăn quả đặc sản có giá trị như bưởi Diễn, dừa Sáp, bưởi đỏ Hòa Bình...; hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại rau theo tiêu chuẩn VietGAP, tiêu chuẩn hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các dự án đã chuyển giao các kỹ thuật về nhân giống, trồng, chăm sóc nhiều loại hoa có mẫu mã đẹp, hiệu quả kinh tế cao ở quy mô nông hộ và công nghiệp với các nhà màng hiện đại có hệ thống phun sương, điều khiển nhiệt độ, ánh sáng tự động; hỗ trợ một số địa phương phát triển các loài dược liệu quý như: giảo cổ lam, cúc hoa vàng, đương quy Nhật Bản, đan sâm...
Lĩnh vực chăn nuôi: các dự án đã hỗ trợ cho địa phương kinh phí và công nghệ để từng bước giải quyết những khó khăn trong chăn nuôi, đồng thời thay đổi tư duy sản xuất của người dân từ đối phó sang chủ động phòng ngừa những vấn đề chuồng trại, con giống, dinh dưỡng, thú y, vệ sinh an toàn sinh học; giúp các địa phương làm chủ được công nghệ về sản xuất giống và chăn nuôi bò thịt, lợn, gia cầm, nuôi ong lấy mật, đà điểu sinh sản và lấy thịt; tiếp nhận các kỹ thuật trồng cỏ, chế biến thức ăn, phòng trừ dịch bệnh cho gia súc, gia cầm…
Lĩnh vực thủy sản: kết quả thực hiện các dự án đã giúp tổ chức chủ trì làm chủ công nghệ về sản xuất giống, nuôi trồng thủy sản và xử lý môi trường nuôi ở nhiều vùng khác nhau; giúp các địa phương chủ động sản xuất giống thủy sản tại chỗ, tạo ngành nghề mới cho ngư dân vùng biển. Đó là các dự án sản xuất giống cua biển; ương giống một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao; sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chim vây vàng, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, ốc hương; sản xuất và nuôi ngao thương phẩm, cá nheo Mỹ, cá rô phi đơn tính dòng GIFT... Đặc biệt, Chương trình đã hỗ trợ một số dự án áp dụng công nghệ Biofloc - công nghệ sinh học theo hướng mới, thân thiện với môi trường, giúp giảm tỷ lệ thức ăn và thành phần protein trong thức ăn thủy sản, là giải pháp để phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp.
Lĩnh vực công nghệ sinh học: các dự án thuộc lĩnh vực này đã hỗ trợ địa phương trong việc sản xuất các loại chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ vi sinh, chế phẩm vi sinh cải tạo đất, sản xuất các loại nấm đặc sản như linh chi, đông trùng hạ thảo. Trong giai đoạn 2016-2020, một số dự án ứng dụng công nghệ sản xuất giống nấm dịch thể đã được đưa vào thực hiện. Đây là công nghệ sản xuất giống nấm có nhiều ưu việt như: nhân giống bằng hệ thống thiết bị theo các cấp cấy truyền của giống; nhân nhanh với số lượng nhiều trong thời gian ngắn (3-5 ngày 1 cấp giống); giảm nhân công lao động, tiết kiệm diện tích sản xuất; độ thuần của giống tăng, chất lượng giống tốt, khả năng khôi phục sợi nhanh, tốc độ lan sợi mạnh, ít nhiễm bệnh, từ đó làm tăng năng suất 10-20% so với công nghệ cũ, rất thích hợp cho sản xuất theo quy mô công nghiệp.
Lĩnh vực công nghệ bảo quản, chế biến: các dự án đã giúp tổ chức chủ trì tiếp nhận và làm chủ được các công nghệ mới trong sấy gỗ, ván ghép thanh, sản xuất muối, thức ăn thủy sản... Cùng với kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, các tổ chức chủ trì đã huy động thêm hàng chục tỷ đồng vốn tự có và các nguồn khác để thực hiện dự án, làm chủ được các công nghệ, mở rộng và nâng cao chất lượng sản xuất, giúp giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động nông thôn, tận dụng phế phẩm của nông nghiệp, giảm thất thoát sau thu hoạch, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị và kéo dài thời gian sử dụng của các sản phẩm nông nghiệp.
Lĩnh vực vật liệu xây dựng, xử lý nước: Chương trình tập trung hỗ trợ chuyển giao công nghệ để sản xuất 2 đối tượng vật liệu xây dựng chính là gạch không nung (16 dự án) và cát nhân tạo (2 dự án). Đây là các vật liệu thay thế cho vật liệu truyền thống (gạch đất sét nung, cát tự nhiên), góp phần tiết kiệm đất nông nghiệp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, Chương trình đã hỗ trợ cho 6 dự án trong lĩnh vực xử lý và tưới tiết kiệm nước. Các dự án đã chuyển giao tiến bộ KH&CN về xử lý và cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt; hỗ trợ các hệ thống tưới tiết kiệm nước phục vụ sản xuất cho các vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị tác động của biến đổi khí hậu, góp phần giải quyết vấn đề thiếu nước, nâng cao chất lượng sống của người dân.
Hiệu quả mang lại
Về hiệu quả kinh tế: hầu hết các dự án đều đem lại hiệu quả kinh tế trực tiếp một cách rõ rệt cho tổ chức chủ trì, thể hiện ở sự gia tăng doanh thu/lợi nhuận so với trước khi thực hiện dự án hoặc so với đơn vị không thực hiện dự án. Chương trình đã tạo ra phương thức thu hút nguồn vốn xã hội đầu tư cho sản xuất bằng việc yêu cầu bắt buộc phải có kinh phí đối ứng khi tổ chức chủ trì thực hiện dự án. Với cơ chế này, trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình đã thu hút được hơn 1.800 tỷ đồng kinh phí từ nguồn vốn tự có của tổ chức chủ trì và các nguồn kinh phí khác để phục vụ cho sản xuất.
Về hiệu quả xã hội: việc thực hiện các dự án của Chương trình đã mang lại hiệu quả xã hội rất lớn. Các dự án triển khai thu hút được nhiều lao động tham gia sản xuất, nhất là khi các mô hình áp dụng KH&CN được lan tỏa nhân rộng sẽ tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới, góp phần đáng kể vào việc giải quyết lao động dôi dư ở nông thôn. Việc thực hiện các dự án đều đưa lại kết quả tốt, làm tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, vật nuôi, từ đó tăng thu nhập cho doanh nghiệp và người dân tham gia dự án. Các dự án đã góp phần ổn định sản xuất bền vững, bình ổn giá cho người nông dân.
Về hiệu quả môi trường: các dự án về nấm và sản xuất phân vi sinh đã tận dụng được các phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, mùn cưa…) để sản xuất thành sản phẩm có giá trị sử dụng và trở thành hàng hóa bán ra thị trường. Qua đó, không chỉ doanh nghiệp sản xuất mà cả người dân sẽ có ý thức tận dụng, thu gom để cấp cho dự án, vừa có tác dụng tăng thu nhập, vừa góp phần giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường trong nông thôn. Bên cạnh đó, các dự án sản xuất gạch không nung góp phần phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu không nung để thay thế gạch đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường; giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội. Các dự án sản xuất rau, quả, chăn nuôi lợn, gia cầm an toàn theo VietGap, an toàn hữu cơ không chỉ giúp tạo ra sản phẩm an toàn, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng mà còn giúp giảm thiểu một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, các chất hóa học thải ra môi trường. Ngoài ra, các dự án xử lý nước, cấp nước sạch, tưới tiết kiệm nước đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước cho những khu vực có khí hậu khô hạn…
Bài viết được tóm tắt từ bài viết của tác giả TS Nguyễn Thế Ích - Văn phòng Chương trình nông thôn miền núi, Bộ KH&CN. |