Ảnh minh họa: Internet
Cà chua (Lycopercicum esculentum Mill) là một trong những loại rau quan trọng nhất được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Năm 2017, diện tích sản xuất cà chua tại Việt Nam đạt 23.101,7 ha, năng suất trung bình 28,09 tấn/ha (Tổng cục Thống kê, 2018). Việc mở rộng diện tích và tăng sản lượng cà chua nói chung cà chua trái vụ nói riêng hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc phải đối mặt với nhiều khó khăn mà chủ yếu là do bệnh héo xanh vi khuẩn gây hại nặng.
Sử dụng cây giống cà chua ghép trên gốc kháng bệnh giúp cây cà chua có khả năng kháng được một số loại bệnh sinh ra trong đất, đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn, tăng khả năng chống chịu của cây, năng suất quả có thể tăng 1,5 - 2,0 lần cao hơn so với cây không ghép, phẩm chất quả cũng đồng thời được nâng cao. Việc sử dụng cây cà chua ghép là giải pháp cho ngành sản xuất cà chua ở nhiều nước trên thế giới, nhất là nơi bị nhiễm nặng bệnh héo xanh vi khuẩn.
Ở miền Bắc Việt Nam, việc sử dụng cây cà chua ghép trên gốc cà tím đã giúp mở rộng sản xuất cà chua trái vụ. Tuy nhiên, giá thành cây giống rất cao, khả năng mở rộng sản xuất còn hạn chế (Trần Văn Lài và Lê Thị Thuỷ, 2005). Với mục đích giảm áp lực bệnh hại trên cây cà chua, giảm giá thành cây giống cà chua, phát triển sản xuất cà chua quanh năm ở các tỉnh miền Bắc, nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cây giống cà chua ghép để hoàn thiện quy trình sản xuất cây giống cà chua ghép trên gốc cà chua được tiến hành.
Trong sản xuất cây giống cà chua ghép trên gốc cà chua ở các tỉnh miền Bắc, bảo quản cây sau ghép ở nhiệt độ 260 C, ẩm độ 80% và mức che sáng 80%, thời gian bảo quản khoảng 6 ngày cho tỷ lệ cây ghép sống và tỷ lệ cây xuất vườn cao nhất. Cây giống tại 25 ngày sau gieo (tương đương 3,75 lá thật, đường kính thân khoảng 1,53 mm) phù hợp với vật liệu kết nối (giun ghép) cho tỷ lệ cây ghép sống và tỷ lệ cây xuất vườn cao, chi phí công chăm sóc giảm, phù hợp trong sản xuất cây giống cà chua ghép trên gốc cà chua. |