Chi lan kim tuyến Anoectochilus có số loài phong phú với khoảng 30 - 40 loài, trong đó loài lan kim tuyến Anoectochilus formosanus Hayata có giá trị dược liệu và thương mại cao nhất thế giới hiện nay (Martin et al., 2005). Theo y học hiện đại, tác dụng dược lý của lan kim tuyến bao gồm các hoạt động chống viêm và bảo vệ gan (Lin et al., 1993),các hoạt động chống oxy hóa (Lin et al., 2000), chống khối u (Tseng et al., 2006). Dịch chiết từ Anoectochilus formosanus (A. formosanus) có tác dụng kích thích hệ miễn dịch (Lin and Hsieh, 2005). Cây lan kim tuyến A. formosanus chứa các hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học, trong đó kinsenoside là một loại alkaloid được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường, tăng lipaza máu và ung thư vú... (Du et al., 2001; Shyur et al., 2004; Zhang et al., 2007)..

Ảnh minh họa: Internet
Lan kim tuyến Anoectochilus formosanus Hayata là loại cây có giá trị dược liệu và thương mại cao. Việc nghiên cứu, sử dụng các hợp chất hữu cơ như cao nấm men và casein hydrolysate nhằm thay thế nguồn muối nitrate vô cơ trong môi trường nuôi cấy sinh khối lan kim tuyến in vitro để tạo nguồn dược liệu an toàn là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, chồi lan kim tuyến được cấy trên môi trường Albert’s có thành phần muối chứa gốc nitrate theo các tỉ lệ (100%, 75%, 50% và 25%), bổ sung vitamin của môi trường MS, 30 g/L sucrose và các hợp chất hữu cơ (cao nấm men và casein hydrolysate) có nồng độ 1,0; 3,0; 5,0 và 7,0 g/L. Sinh khối lan kim tuyến nuôi cấy trên các môi trường cho hiệu quả nhân sinh khối được đánh giá hoạt tính sinh học. Kết quả sau 6 tuần nuôi cấy cho thấy, môi trường thích hợp nhất cho sự nhân nhanh sinh khối lan kim tuyến là môi trường Albert’s có thành phần muối nitrate giảm 50% và 7 g/L cao nấm men với chiều cao cây đạt 9,4 cm/cây; khối lượng tươi đạt 1,82 g/mẫu và khối lượng khô đạt 0,18 g/mẫu. Sinh khối thu nhận được trên môi trường này có hoạt tính sinh học tốt nhất với khả năng kháng oxi hoá cao (IC50 = 2,40 mg/mL) và có khả năng kháng 4 chủng vi khuẩn là Pseudomonas aeruginosa; Salmonella typhi; Staphylococcus aureus và Bacillus subtilis. |