Nghiên cứu
[ Đăng ngày (29/03/2020) ]
|
|
Ảnh hưởng của phương thức nuôi dưỡng đến một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn bò cái nuôi tại huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông
|
|
|
Nghiên cứu do tác giả Văn Tiến Dũng thuộc Trường Đại học Tây Nguyên thực hiện.
|
Hình minh họa (Nguồn: internet)
Tỉnh Đắk Nông đã quan tâm đầu tư phát triển đàn bò thịt tại huyện Cư Jut và coi đây là vùng trọng điểm phát triển chăn nuôi bò thịt. Các chương trình cải tạo đàn bò bằng các phương thức sử dụng đực giống Brahamn thuần phối giống trực tiếp và dùng tinh cọng rạ các giống bò chuyên thịt thụ tinh nhân tạo cho đàn bò cái cũng được ứng dụng mạnh mẽ. Theo đó, tỷ lệ đàn bò lai chuyên thịt cũng tăng từ 18% lên 31%. Việc tuyển chọn, nuôi dưỡng và phối giống hợp lý trên nền đàn bò cái sẵn có tại địa phương đã góp phần nâng khối lượng bình quân đàn bê sơ sinh từ 18,7 kg/con lên 21,6 kg/con. Tuy nhiên trong quá trình triển khai, chương trình đã đối diện với các vấn đề về nuôi dưỡng và chăm sóc đàn bò cái nền trong nông hộ chưa thực sự phù hợp, do đó đã xảy ra tình trạng: (i) Bê con sinh ra có khối lượng thấp, tỷ lệ còi cọc cao; (ii) Bò mẹ có thời gian động dục trở lại sau khi đẻ kéo dài; (iii) Sau khi sinh bò mẹ giảm khối lượng… Nguyên nhân chủ yếu có thể là kỹ thuật nuôi dưỡng và khả năng đầu tư dinh dưỡng cho đàn bò mẹ trong quá trình nuôi dưỡng.
Nghiên cứu được tiến hành trên 190 bò cái sinh sản thuộc 100 hộ tại 2 xã Tâm Thắng và Nam Dong của huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông.
Kết quả cho thấy 71% các hộ nuôi bò cái sinh sản áp dụng phương thức phối giống trực tiếp cho bò cái từ nguồn bò đực Brahman thuộc chương trình cải tạo đàn bò Lai Sind. Các hộ tại Tâm Thắng sử dụng thức ăn tinh nuôi bò cao hơn tại Nam Dong 0,03-0,69 kg/con vào mùa khô và 0,21-2,00 vào mùa mưa. Bò cái sinh sản tại Tâm Thắng có khối lượng cao hơn so với Nam Dong là 14,16 kg/con và ở bê sơ sinh là 2,24 kg/con (P<0,05). Bò cái sinh sản nuôi tại Tâm Thắng có các chỉ số về tuổi động dục lần đầu, tuổi mang thai lần đầu và thời gian động dục trở lại sau khi đẻ luôn thấp hơn Nam Dong. |
ctngoc
Theo Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi. Số 220 năm 2017 |