Nghiên cứu [ Đăng ngày (28/03/2020) ]
Đặc điểm lâm sàng thính lực và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ≥ 60 tuổi biểu hiện nghe kém tại khoa tai mũi họng bệnh viện Thống Nhất
Nghiên cứu do nhóm tác giả Châu Thị Mạnh Thu - Bệnh viện Thống Nhất , Hồ Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Hoài Thương - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Cao thực hiện nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng thính lực và xác định các yếu tố liên quan ở những bệnh nhân ≥ 60 tuổi có biểu hiện nghe kém đến khám tại Khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Thống Nhất.

Ảnh minh họa.

Mất thính lực ở người lớn tuổi được trình bày trong y văn đầu tiên vào năm 1849 bởi Toynbee. Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này trên nhiều phương diện như đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, thính học, nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh. Theo ước tính vào năm 2030, người cao tuổi sẽ chiếm 32% dân số thế giới, tức tăng 250%, theo đó sẽ có khoảng 60% đến 70% bị mất thính lực nghiêm trọng. Tại Mỹ, theo thống kê của Viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia, có 21,9 triệu người Mỹ bị mất thính lực (trong đó số người từ 65 tuổi trở lên chiếm 65,5%). Tại Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, có khoảng 3 triệu lượt người (chiếm 3,8% dân số) bị khuyết tật về nghe, trong đó số người trên 60 tuổi chiếm 24%. Qua đó cho thấy cùng với sự tăng lên của số lượng người cao tuổi thì tỷ suất hiện mắc của bệnh lý nghe kém do tuổi tác và những nguyên nhân khác cũng ngày càng tăng lên. Khi thính lực giảm, nhiều người cao tuổi có thể gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp với người xung quanh làm cho người bệnh có khuynh hướng ngại tiếp xúc với xã hội dẫn đến cô độc, trầm cảm và thậm chí hoang tưởng rằng mình bị mọi người cô lập và phân biệt đối xử.

Nghiên cứu bệnh nhân ≥ 60 tuổi có biểu hiện nghe kém đến khám tại Khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Thống Nhất trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2019. Bệnh nhân khám tai mũi họng có màng nhĩ còn nguyên vẹn, ống tai sạch, không có nút tai; có kết quả thính lực đồ, nhĩ lượng đồ, phản xạ cơ bàn đạp và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại ra Bệnh nhân bị dị tật ống tai ngoài, dị tật vành tai hoặc có tiền sử bệnh lý tai giữa, nghe kém bẩm sinh hoặc mắc phải trước 60 tuổi hoặc điếc nghề nghiệp, điếc hỗn hợp. Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỉ lệ, với Z(1-α/2) = 1,96; α = 0,05; p = 0,895 (tỉ lệ bệnh nhân bị nghe kém theo nghiên cứu của Trần Thị Kim Ngân năm 2017) (11) và d = 0,05 à tính được số người cần khảo sát là 145 người. Thực tế nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn được 146 người. Kỹ thuật chọn mẫu Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi có biểu hiện nghe kém đến khám tại Khoa Tai Mũi Họng - bệnh viện Thống Nhất vào thời gian nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn mẫu cho đến khi đủ mẫu. Số liệu được thu thập bằng 2 phương pháp Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, bao gồm 4 phần: Thông tin chung của người được phỏng vấn. Thông tin về tiền sử bệnh và các yếu tố nguy cơ. Thông tin về bệnh sử trong lần khám này. Kết quả đo thính lực: nhĩ lượng đồ, phản xạ cơ bàn đạp và thính lực đồ. Đo thính lực Đo nhĩ lượng đồ và phản xạ cơ bàn đạp: sử dụng máy Otowave 102 - hàng của UK. Đo thính lực đồ: sử dụng máy Resonance R27A - hàng của Ý, đo thính lực đồ đơn âm ở cả đường khí và đường xương ở các mức tần số 250 Hz, 500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz, 4000 Hz, 8000 Hz. Phân độ tình trạng nghe kém theo tiêu chuẩn ASHA bằng ngưỡng nghe đơn âm trung bình. Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều dựa trên cơ sở tự nguyện. Các phương pháp đo thính lực không đau, không gây ảnh hưởng đến bệnh nhân. Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về: mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, việc sử dụng kết quả nghiên cứu và tính bảo mật của thông tin cá nhân. Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức theo quyết định số 55/HĐĐĐ của trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, khảo sát được 147 người cao tuổi, nam giới chiếm 61,9% và nhóm tuổi từ 71 – 80 tuổi chiếm đa số (51%). Đa số bệnh nhân có biểu hiện bị ù tai (99,3%) và đầy tai (93,2%). Thời gian bắt đầu mắc các triệu chứng này chủ yếu là dưới 1 năm, chiếm 58,6%. Hai tai có tỉ lệ bất thường màng nhĩ gần bằng nhau (86,4% ở tai trái và 85,7% ở tai phải), trong khi đó tai phải có tỉ lệ bất thường ống tai ngoài gấp 2 lần tai trái. Nhĩ lượng đồ có dạng A chiếm tỉ lệ cao nhất (55,8% ở tai trái và 49% ở tai phải), kế tiếp là dạng AS với tỉ lệ lần lượt của hai bên trái phải tai là 21,8% và 27,9%. Tỉ lệ âm tính với phản xạ cơ bàn đạp khá cao với 65,3% ở tai trái và 66,7% ở tai phải. Tỉ lệ bệnh nhân bị nghe kém khá cao chiếm 87,7%. Các yếu tố liên quan đến nghe kém bao gồm tuổi, sống chung với người thân, thu nhập, tiền sử gia đình và tiền sử sử dụng thuốc độc hại. Các bác sĩ lâm sàng cần tập trung khai thác các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân cao tuổi để gợi ý chỉ định thêm các xét nghiệm cận lâm sàng phù hợp, giúp chẩn đoán sớm tình trạng nghe kém, từ đó đề xuất các can thiệp nhằm nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân.

ntptuong
Theo Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 23, số 5/2019
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->