Ảnh minh họa.
Thuốc phối hợp dihydroartemisinin (DHA) và piperaquine phosphate (PPQ) chấp thuận như thuốc ưu tiên trong điều trị sốt rét do ký sinh trùng Plasmodium falciparum chưa biến chứng. Tuy nhiên, P. falciparum kháng với artemisinin là mối quan tâm tại khu vực Đông Nam Á. Nhằm đánh giá diễn tiến lan rộng kháng thuốc artemisinin sớm đòi hỏi xác định một số chỉ điểm phân tử hiệu quả.
Các bệnh nhân từ 3 tuổi trở lên đến dưới 70 tuổi, nhiễm đơn thuần loài P. falciparum, mật độ KSTSR thể vô tính P. falciparum trong máu ≥1.000-<100.000/µL máu, thân nhiệt đo ở tại ><100.000µL máu, thân nhiệt đo ở tại >37,5°C, chưa dùng thuốc sốt rét và bệnh nhân, hoặc người thân đồng ý hợp tác. Tiêu chuẩn loại trừ Các bệnh nhân nhỏ hơn 3 hoặc lớn hơn 70 tuổi, phụ nữ mang thai, hoặc đang cho con bú, người đang có bệnh rối loạn tâm thần kinh, động kinh, nôn mửa, tiêu chảy trầm trọng hoặc thể trạng không hấp thu được thuốc, sốt rét có biến chứng hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng phối hợp. Nhiễm sốt rét phối hợp P. falciparum với loài Plasmodium sp. khác, bệnh nhân đã dùng thuốc sốt rét, bệnh nhân trong độ tuổi sinh đẻ cần phải thử test thai âm tính. Huyện Tuy Đức, Cư Jut (tỉnh Đăk Nông) và huyện Hướng Hóa, Đa Krông (tỉnh Quảng Trị). Từ tháng 7/2017 - 7/2019. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối chứng với đề cương của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2009) có cải tiến lịch trình theo dõi ngắn ngày (Fast-TES) trên bệnh nhân. Phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự phát hiện đột biến K13 và Plasmepsine2/3 với cỡ mẫu thu thập dựa trên nghiên cứu in vivo. Trong nghiên cứu này, nếu xem tỷ lệ thất bại của DHA-PPQ trong nghiên cứu trước đó(14) khoảng 15%, nên tỷ lệ được chọn để ước tính tỷ lệ thất bại p = 15%, khoảng tin cậy 95%, độ chính xác d = 10%. Khi đó, cỡ mẫu tối thiểu cần trong nghiên cứu n = 50. Bệnh nhân tham gia nghiên cứu sẽ được đánh giá các thông số lâm sàng, KSTSR và đánh giá thời gian làm sạch KSTSR, phân tích sinh học phân tử, giải trình tự xác định đột biến gen K13 và Plasmepsine 2/3 kháng artemisinin và piperaquine. Số liệu thu thập được tổng hợp, phân tích và xử lý theo phần mềm in vivo phiên bản 7.1 (WHO, 2015) và dựa vào kết quả phân tích đột biến gen K13 và Plasmepsine2/3. Thời gian làm sạch KSTSR được định nghĩa là khoảng thời gian tính bằng giờ kể từ liều điều trị đầu tiên cho đến khi xét nghiệm có 2 lam máu liên tiếp âm tính với thể vô tính P. falciparum. Tính tỷ lệ từng loại đột biến dựa trên số loại đột biến trên tổng số mẫu được phân tích của từng nhóm có tồn tại thể vô tính ngày D3 và nhóm không tồn tại thể vô tính ngày D3.
Kết quả nghiên cứu co thấy, dữ liệu cho thấy tỷ lệ tồn tại ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) ngày D3 là 41,7% và 5,1% lần lượt tại Đăk Nông và Quảng Trị. Với các mẫu không còn tồn tại P. falciparum thể vô tính ngày D3 tại Đăk Nông và Quảng Trị, các đột biến thu được chủ yếu thể hoang dại, K503N (Đăk Nông) và V520I (Quảng Trị), đây là các đột biến chưa xác định liên quan đến kháng thuốc và không có plasmepsine2/3. Ngược lại, các mẫu có tồn tại thể vô tính ở ngày D3, đột biến ghi nhận C580Y là 80% với plasmepsine 2/3 tăng là 60% ở Đăk Nông và 50% C580Y ở Quảng Trị, không kèm theo số bản sao plasmepsine 2/3 tăng. Đột biến C580Y và plasmepsine 2/3 chiếm ưu thế trong nhóm bệnh nhân chậm sạch P. falciparum trong máu sau điều trị, phối hợp hai chỉ điểm K13 và plasmepsine 2/3 chỉ ra kháng thuốc phối hợp dihydroartemisinin-piperaquine cao tại Đăk Nông. |