Cá rô phi là tên gọi phổ biến của 03 nhóm cá thuộc họ Cichlidae: Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis. Ở Việt Nam, cùng với cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) là loài cá nước ngọt quan trọng thứ hai sau cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Merican, 2011). Sản lượng xuất khẩu của cá rô phi vằn và cá rô phi đỏ tăng trong những năm gần đây từ 171.360 tấn vào năm 2015 lên 200.000 tấn vào năm 2017 (Tổng cục Thủy sản, 2016). Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất cá rô phi chính cho cả nước. Cá rô phi đỏ được nuôi phổ biến trong bè và trong ao. Phần lớn sản lượng cá rô phi đỏ từ nuôi bè (Merican, 2011), cá nuôi ao chủ yếu tiêu thụ trong gia đình và các chợ nội địa. Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ được thực hiện từ năm 2010 cho tính trạng tăng trưởng nhanh (khối lượng cá khi thu hoạch) và màu sắc đẹp (Trọng và ctv., 2017). Sau 4 thế hệ chọn lọc, các tính trạng tăng trưởng và màu sắc đã cải thiện đáng kể. Đối với cá rô phi đỏ, các chỉ tiêu của tính trạng sinh sản như số trứng trên cá cái, tỉ lệ nở, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ sống của cá bột đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất giống. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng (di truyền) của khối lượng cá cái tham gia sinh sản lên đặc điểm sinh sản của cá. Đặc điểm sinh sản được phân thành hai nhóm tính trạng là mức độ sinh sản và hiệu quả sinh sản. Hai nội dung chính của nghiên cứu là 1) ước tính hệ số di truyền của tính trạng mức độ sinh sản gồm các chỉ tiêu số lượng trứng, khối lượng trứng/cá cái, và tính trạng hiệu quả sinh sản cho các chỉ tiêu như tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở, tỉ lệ sống cá bột 10 ngày tuổi, 2) ghi nhận tương quan di truyền của tính trạng sinh sản với khối lượng cá mẹ lúc sinh sản.
Các thông số di truyền và tương quan di truyền của hai tính trạng mức độ sinh sản và hiệu quả sinh sản với khối lượng cá mẹ được ước tính trên quần thể cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) chọn giống tại ĐBSCL. Tính trạng mức độ sinh sản gồm các chỉ tiêu tổng số trứng (NEGG) và khối lượng trứng (EGGW) của 1 cá mẹ; tính trạng hiệu quả sinh sản gồm các chỉ tiêu số trứng thụ tinh (FEGG), tỉ lệ thụ tinh (FER, %), tỉ lệ nở (HAT, %) và tỉ lệ sống cá bột 10 ngày tuổi (SUR, %). Các chỉ tiêu thu được trên 196 cá cái đã tham gia sinh sản, thuộc 57 gia đình. Hệ số di truyền (h2 ) được ước tính bằng mô hình hồi quy hỗn hợp cá thể; dùng phương pháp phân tích hai biến để tính tương quan di truyền (rg ); các thông số kiểu gen, kiểu hình được ước tính bằng phần mềm ASReml version 4.1. h2 của khối lượng cá mẹ sinh sản (FW) là 0,44 ± 0,17; Đối với tính trạng mức độ sinh sản, h2 của NEGG là 0,31 ± 0,18; EGGW là 0,38 ± 0,40. rg giữa FW và NEGG cao (0,94 ± 0,22), trong khi tương quan giữa FW và EGGW thấp hơn (0,57 ± 0,57). Đối với tính trạng hiệu quả sinh sản, h2 của HAT là 0,52 ± 0,28, FEREGG là 0,12 ± 0,13 và SUR là 0,05 ± 0,11 (không ước tính chỉ tiêu FER), ước tính di truyền khác biệt không đáng kể so với 0. rg giữa FW và FEREGG là 0,98 ± 0,65, giữa FW và HAT là −0,30 ± 0,46, giữa FW và SUR là −0,82 ± 1,17. Ta có thể nhận định từ kết quả rằng cá mẹ càng lớn sẽ có nhiều trứng thụ tinh hơn nhưng tỉ lệ nở và tỉ lệ sống cá bột 10 ngày tuổi thấp hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của hệ thống ấp trứng có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh. Khi ấp trứng, các yếu tố không di truyền như quản lý quá trình ấp dự kiến có thể ảnh hưởng tới ước tính di truyền cho chỉ tiêu tỉ lệ thụ tinh.
|