Ảnh minh họa.
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến được đặc trưng bởi nỗi buồn, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác tội lỗi hoặc tự đánh giá thấp bản thân, bị quấy rầy giấc ngủ hoặc sự thèm ăn, mệt mỏi và kém tập trung. Khoảng 300 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm, đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra khuyết tật trên toàn thế giới. Trong đó, phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam giới. Đối với phụ nữ, trở thành một người mẹ thường là một niềm vui, nhưng cũng là một sự kiện căng thẳng. Thay đổi cuộc sống, trách nhiệm mới và không quen thuộc việc chăm sóc trẻ đi kèm với quá trình chuyển đổi từ mang thai để làm mẹ có thể làm phụ nữ cảm thấy bị cô lập, cô đơn, và kiệt sức. Theo ước tính toàn cầu, khoảng 13% phụ nữ sau sinh bị rối loạn tâm thần chủ yếu là trầm cảm, ở các nước đang phát triển con số này còn cao hơn, có thể lên tới 19,8%. Tại Việt Nam, nghiên cứu trầm cảm sau sinh (TCSS) ở cộng đồng thì ghi nhận tỷ lệ dao động từ 15,3 – 19,3%. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu tại đây là cần thiết để nhằm góp phần vào công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em để có những trợ giúp và hỗ trợ tâm lý cho các bà mẹ cả từ phía nhân viên y tế và từ phía gia đình.
Nghiên cứu phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đồng ý tham gia vào nghiên cứu và có thời gian sống hay thường trú tại địa phương trên 1 năm. Phụ nữ không có khả năng nghe, nói hoặc có sức khỏe quá yếu không thể trả lời phỏng vấn, không trả lời 100% các câu hỏi của thang đo hỗ trợ xã hội và TCSS. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng 1 tỷ lệ với xác suất sai lầm loại 1 là 0,05, sai số cho phép d là 0,05 và p = 0,164 là tỷ lệ TCSS dựa vào kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Dân thực hiện ở Đồng Tháp năm 2018(10) với hệ số thiết kế là 1,5, tỷ lệ mất mẫu là 5% cuối cùng tính ra cỡ mẫu là 333. Dựa vào danh sách do trung tâm y tế cung cấp gồm 17 xã/ thị trấn, sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm xác suất tỷ lệ với kích thước dân số (PPS). Đầu tiên tính số phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng tích lũy. Sau đó gán một cụm cho các số ngẫu nhiên từ số phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng tích lũy của cụm trước đó +1 đến số phụ nữ sau sinh trong vòng 6 tháng tích lũy của cụm đó. Tiếp theo chọn 9 cụm, mỗi cụm 37 người (cỡ mẫu là 333), chọn khoảng cách mẫu k=N/số cụm=1117/9=124, chọn ngẫu nhiên con số R là 35 (1 ≤ R ≤ 124), cụm đầu tiên được chọn là R, cụm tiếp theo được tính theo công thức: R+k, R+2k, R+3k. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn mặt đối mặt bằng bộ câu hỏi soạn sẵn có bố cục gồm 5 phần về đặc điểm dân số kinh tế xã hội, tiền sử mang thai và sinh con, đặc điểm trẻ, thang đo trầm cảm sau sinh EPDS, thang đo hỗ trợ xã hội MOS - SSS. Thang đo trầm cảm sau sinh Trầm cảm sau sinh được đo lường bằng thang đo EPDS (Edinburgh Postnatal Depression Scale). Thang đo EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu gồm 4 lựa chọn tương ứng với điểm số từ 0–3. Các câu hỏi có thứ tự số 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10 trong thang đo cần được chuyển ngược điểm trước khi tính tổng điểm của thang đo. Tổng điểm từ 0–30 điểm. Đối tượng được xác định là có trầm cảm sau sinh khi tổng điểm thu được từ thang đo EPDS ≥13 điểm. Thang đo hỗ trợ xã hội Được đánh giá bằng thang đo MOS – SSS (Medical Outcomes Study: Social Support Survey): gồm 20 câu hỏi, 4 khía cạnh. Mỗi câu hỏi với 5 mức lựa chọn tương ứng với mức độ không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, luôn luôn. Điểm trung bình thang đo MOS – SSS bằng trung bình điểm của 4 khía cạnh. Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1. Sử dụng phần mềm Stata 14 để phân tích số liệu. Sử dụng phép kiểm chi bình phương (hoặc kiểm định chính xác Fisher nếu trên 20% giá trị vọng trị <5 để xác định các yếu tố liên quan đến TCSS. Lượng giá mối liên quan bằng tỉ số tỷ lệ hiện mắc PR với khoảng tin cậy 95%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ TCSS là 18,1%, trong số đó thì có đến 48,3% có ý định tự tử. Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 28 ± 5,7. Trong 320 người tham gia, đa số phụ nữ làm công nhân và có ½ phụ nữ sau sinh có học vấn từ cấp 3 trở lên. Nghiên cứu tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TCSS với 6 đặc điểm như sức khỏe lúc mang thai, hình thức sinh con, có tiền sử trầm cảm trước đó, tình trạng sức khỏe trẻ và tình trạng trẻ quấy khóc về đêm, hỗ trợ xã hội. Nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ có sức khỏe lúc mang thai không tốt, sinh thủ thuật, có tiền sử trầm cảm trước đó, có một đứa trẻ hay bị bệnh và hay quấy khóc về đêm, điểm hỗ trợ xã hội thấp đều làm tăng tỷ lệ trầm cảm sau sinh ở đối tượng nghiên cứu. |