Ảnh minh họa.
Ngày nay, học sinh đang lớn lên trong một thế giới công nghệ cao và là một trong những đối tượng đi đầu trong xu hướng sử dụng các thiết bị công nghệ tương tác bằng màn hình. Theo CDC, năm 2018 thanh thiếu niên từ 15 - 18 dành trung bình 7,5 giờ mỗi ngày để sử dụng các thiết bị màn hình. Tỷ lệ thời gian sử dụng màn hình (TGSDMH) cao ở học sinh được ghi nhận đang tăng nhanh trong những năm gần đây, năm 2015 tại Brazil tỷ lệ TGSDMH mức độ cao là 79,5% và tỷ lệ này ở nam là 84,3%, ở nữ là 76,1% đến năm 2016 nghiên cứu của Christofaro DG ở Brazil và cho kết quả tỷ lệ sử dụng màn hình mức độ cao 93,8% ở nam và 87,2% ở nữ. Sự gia tăng nhanh của các thiết bị màn hình những năm gần đây dẫn đến việc tăng nhanh thời gian sử dụng màn hình ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi học sinh. Sử dụng màn hình quá mức có những ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tâm lý của học sinh, tuy nhiên tại Việt Nam vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của xã hội.
Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ thời gian sử dụng màn hình (TGSDMH) cao và mối liên quan với các yếu tố bản thân và gia đình ở học sinh trường THPT Gò Vấp, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019 tại trường THPT Gò Vấp, quận Gò Vấp. Có tổng cộng 583 học sinh thỏa tiêu chí chọn mẫu theo phương pháp PPS. Những học sinh đồng ý tham gia được khảo sát bằng bộ câu hỏi soạn sẵn gồm những thông tin về bản thân, gia đình và bộ câu hỏi thời gian sử dụng màn hình dựa trên các hành vi tĩnh tại dành cho thanh thiếu niên của HELENA. Kiểm định chi bình phương (hoặc kiểm định Fisher) và hồi quy Poisson với ngưỡng ý nghĩa khi p<0,05 được sử dụng để xác định mối liên quan giữa TGSDMH và các yếu tố bản thân, gia đình. Nghiên cứu sử dụng phương pháp PPS để chọn ra 20 cụm thuộc 3 khối 10, 11 và 12 mỗi cụm lấy 30 học sinh. Từ danh sách học sinh cộng dồn với tổng là 1722 học sinh, khoảng cách mẫu là 86 và số đầu tiên được chọn ngẫu nhiên là 19. Cụm đầu tiên bắt đầu từ học sinh có thứ tự cộng dồn là 19, cụm đầu tiên sẽ là những học sinh có số thứ tự từ 19 đến 48. Cụm thứ 2 bắt đầu bằng học sinh có số thứ là 19 cộng với khoảng cách mẫu và bằng 105, cụm 2 bao gồm các học sinh có số thứ tự là 105 đến 134. Cụm thứ 3 được tính bằng cách cộng thêm khoảng cách mẫu vào con số bắt đầu tính được ở cụm thứ 2. Tương tự với các cụm còn lại cụm phía sau sẽ bằng con số bắt đầu tính được ở cụm liền trước cộng với khoảng cách mẫu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian sử dụng màn hình trung vị là 428 phút/ngày (tương đương với hơn 7,1 giờ/ngày), tỷ lệ thời gian sử dụng màn hình cao là 93,3%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian sử dụng màn hình với các yếu tố giới tính, khối lớp, học lực, kinh tế gia đình và nghề nghiệp của mẹ. Trong đó học sinh nam có tỷ lệ sử dụng màn hình cao gấp 1,05 lần học sinh nữ (96,1% so với 90,9%), các khối lớp càng nhỏ hay học lực càng kém thì tỷ lệ sử dụng màn hình cao càng cao. Những học sinh có điều kiện kinh tế gia đình trung bình có tỷ lệ sử dụng màn hình cao gấp 1,24 lần những học sinh có điều kiện kinh tế nghèo. Những học sinh có mẹ là công nhân có tỷ lệ sử dụng màn hình cao thấp hơn những học sinh có mẹ làm công việc kinh doanh, lao động tự do và nghề nghiệp khác. Tỷ lệ thời gian sử dụng màn hình cao là 93,3%. Các yếu tố liên quan đến thời gian sử dụng màn hình là giới tính, khối lớp, học lực, điều kiện kinh tế gia đình và nghề nghiệp của mẹ. |