Nghiên cứu [ Đăng ngày (28/03/2020) ]
Trầm cảm, chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi mãn kinh tại xã phước hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
Nghiên cứu do đồng tác giả Phạm Lê Thị Thanh Trúc và Huỳnh Ngọc Vân Anh - Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh thực hiện.

Ảnh minh họa.

Phụ nữ mãn kinh trên thế giới chiếm tỷ lệ khá lớn, ước tính đến 2030, dân số của phụ nữ mãn kinh trên thế giới sẽ là 1,2 tỉ. Tại Việt Nam, độ tuổi trung bình mãn kinh là 55 ± 3. Như vậy nếu tuổi trung bình của thời kỳ mãn kinh là 50 năm và tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam là 81,1 tuổi thì hầu hết phụ nữ sẽ dành khoảng một phần ba cuộc đời trong cuộc sống mãn kinh. Rối loạn trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu làm tăng gánh nặng bệnh tật không tử vong ở nữ giới tại Việt Nam, nhất là độ tuổi từ 45 – 60 tuổi. Phụ nữ mãn kinh có rối loạn trầm cảm là yếu tố nguy cơ gây tử vong do các bệnh lý tim mạch, ung thư nói riêng và tỷ lệ tử vong nói chung. Chất lượng giấc ngủ và các thành phần của rối loạn giấc ngủ là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với rối loạn trầm cảm ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh Tại Việt Nam, một vài nghiên cứu về trầm cảm, chất lượng giấc ngủ trên đối tượng phụ nữ mãn kinh đã được tiến hành. Nghiên cứu tại Cần Thơ của Nguyễn Thị Ngọc Huyền cho thấy nguy cơ trầm cảm có liên quan đến tuổi, học vấn, nghề nghiệp và khả năng lao động. Và hầu hết các nghiên cứu tập trung xác định tỷ lệ trầm cảm, chất lượng giấc ngủ riêng lẻ, chưa đánh giá sâu về mối liên quan giữa trầm cảm và chất lượng giấc ngủ ở phụ nữ mãn kinh. Xã Phước Hòa là một xã thuộc vùng nông thôn của huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, với tỷ lệ nữ giới nhiều, tuổi thọ cao đồng nghĩa người phụ nữ sẽ trải qua thời kì mãn kinh kéo dài hơn, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe phụ nữ mãn kinh cần được chú trọng tại địa bàn xã Phước Hòa.

Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm, tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi mãn kinh tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định năm 2019.

Nghiên cứu 279 người phụ nữ từ 50 – 59 tuổi tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh thì tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh là 37,9% nên chọn p = 0,379, từ đó cỡ mẫu tính được là 362 người. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thục Anh thì tỷ lệ CLGN kém là 60,5%, do đó chọn p = 0,605, từ đó cỡ mẫu tính được là 368 người. Vậy cỡ mẫu chung cần thiết cho nghiên cứu là 368 x 1,5 = 552 người. Tuy nhiên, xã Phước Hòa chỉ có tổng cộng 564 người phụ nữ từ 50–59 tuổi, do đó sau khi hiệu chỉnh cho phù hợp với dân số đích thì cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 279 người.

Những đối tượng được tiếp cận sẽ tiến hành phỏng vấn bằng phiếu sàng lọc đối tượng, trong đó đối tượng chọn vào phải thỏa tất cả điều kiện gồm phụ nữ từ 50 – 59 tuổi, thường trú tại địa phương hoặc sinh sống hơn 6 tháng, còn tử cung và hai buồng trứng (thông qua hỏi tiền sử phẫu thuật, tiền sử bệnh lý phụ khoa), đồng ý tham gia nghiên cứu. Những đối tượng bị loại khỏi nghiên cứu nếu có bất kỳ một trong những đặc điểm như dùng bất kỳ thuốc nội tiết sinh dục (thông qua hỏi đối tượng có sử dụng thuốc gì trong 6 tháng qua không? Thuốc dùng điều trị bệnh gì?); có bệnh lý ác tính, sau phẫu thuật, bệnh lý nội khoa không còn kiểm soát bằng thuốc; có tiền sử bệnh tâm thần phân liệt, mắc các bệnh lý tâm thần, thực thể nặng hoặc để lại di chứng cản trở việc thực hiện phỏng vấn; không nói hay hiểu tiếng Việt.

Nghiên cứu lấy mẫu với phương pháp lấy mẫu cụm nhiều bậc, bước 1: chọn 20 đội dân trong 38 đội dân thuộc 10 thôn của xã Phước Hòa: Xã Phước Hòa có 10 thôn với số phụ nữ trong độ tuổi từ 50 – 59 là 564 người được phân bố trong 38 đội. Chọn 20 đội trong 38 đội này. Như vậy, mỗi đội sẽ có 279/20 = 13,95 người => Chọn lấy 14 người mỗi đội. Khoảng cách mẫu (K) được tính bằng cỡ mẫu chia cho số đội: 564/20 = 28,2, do đó K = 28. Chọn một số ngẫu nhiên R từ bảng số ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 – 28 => chọn số R = 20. Đội đầu tiên được chọn sẽ có người có số tích lũy chứa số R = 20. Cứ như vậy, tiếp tục đội tiếp theo là đội có người có số tích lũy là R+ K và tiếp theo: R+ 2K, R+3K…, R+19K. Bước 2: Chọn ngẫu nhiên đối tượng trong mỗi đội. Danh sách phụ nữ từ 50 – 59 tuổi được lấy từ Hội Phụ nữ xã Phước Hòa, trong danh sách này các đối tượng được phân ra theo từng thôn, từng đội dân. Lập danh sách và đánh số thứ tự các đối tượng trong các đội được chọn trong bước 1. Rút thăm từ hộp số có chứa các số thứ tự của 20 đội được chọn. Mỗi đội chọn 14 thăm, từ đó có được danh sách đối tượng phỏng vấn của mỗi đội. Nếu đối tượng bị loại theo tiêu chí loại ra hoặc không thỏa tiêu chí chọn vào, bỏ qua và tiếp tục lấy số tiếp theo của quy luật trên cho đến khi đủ số mẫu của mỗi đội. Sử dụng phương pháp phỏng vấn mặt đối mặt với bộ câu hỏi cấu trúc gồm 56 câu được chia làm 5 phần: đặc điểm dân số - xã hội - kinh tế, thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe, tình trạng mãn kinh, chất lượng giấc ngủ, rối loạn trầm cảm. Rối loạn trầm cảm Được đánh giá thông qua thang đo Center for epidemiologic study depression scale (CESD) là công cụ được tác giả Radoff xây dựng để tầm soát trầm cảm chủ yếu trong dân số chung. Với 20 câu hỏi đánh giá với 4 sự lựa chọn, thể hiện 4 mức độ: 0 điểm tương ứng với hiếm khi (không có hoặc nhỏ hơn 1 ngày), 1 điểm tương ứng với đôi khi (từ 1 – 2 ngày), 2 điểm tương ứng với hầu hết (từ 3 – 4 ngày), 3 điểm tương ứng với toàn bộ (từ 5 – 7 ngày). Đối với câu hỏi 4, 8, 12, và 16 các câu hỏi này cần đảo ngược cách tính điểm trước khi tính tổng điểm. Những người có tổng điểm theo thang đo từ 16 điểm trở lên thì được xem là có dấu hiệu rối loạn trầm cảm. Thang đo này cũng đã được đánh giá độ tin cậy tại Việt Nam với Cronbach’s alpha là 0,81. Chất lượng giấc ngủ được đánh giá qua thang đo Pittsburgh (PSQI) bao gồm 7 thành phần: chất lượng chủ quan của giấc ngủ, rối loạn giấc ngủ tiềm tàng, thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ thường xuyên, rối loạn giấc ngủ, sử dụng thuốc ngủ, rối loạn chức năng vào ban ngày. Tổng điểm của 7 thành phần là điểm CLGN. Phiên bản PSQI Tiếng việt cũng đã được lượng giá với tính tin cậy nội bộ hệ số Cronbach’s alpha là 0,789. Nghiên cứu thử được tiến hành trên 20 người phụ nữ từ 50 – 59 tuổi tại xã Phước Hòa. Kết quả nghiên cứu có hệ số Cronbach’s alpha của thang đo PSQI là 0,85; hệ số Cronbach’s alpha của thang đó CES-D là 0,88. Phân tích thống kê sử dụng tần số và tỷ lệ phần trăm cho các biến định tính như nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, nguồn thu nhập, mức độ hài lòng về tình trạng thu nhập, bệnh mạn tính hiện mắc, điều trị thuốc, lo lắng về sức khỏe, tình trạng mãn kinh, khám phụ khoa, thời gian ngủ, tần suất dùng thuốc ngủ, các rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng hoạt động ban ngày, đánh giá CLGN chủ quan, CLGN theo thang điểm PSQI, tỷ lệ rối loạn trầm cảm. Sử dụng trung bình và độ lệch chuẩn mô tả cho các biến số tuổi, thu nhập hàng tháng. Dùng trung vị và khoảng tứ phân vị để mô tả: thời lượng ngủ, điểm số CLGN theo thang đo PSQI. Sử dụng phép kiểm chi bình phương hoặc phép kiểm chính xác Fisher để kiểm định mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm với các biến số. Sử dụng chỉ số lượng giá mức độ liên quan bằng số đo tỉ số tỷ lệ hiện mắc (PR) với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%). Mô hình hồi quy Poisson đa biến được dùng để xác định các yếu tố thực sự có liên quan đến rối loạn trầm cảm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở phụ nữ tuổi mãn kinh là 31,2%, tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém là 57,7%. Hơn 80% phụ nữ tham gia nghiên cứu đều ở giai đoạn quanh và sau mãn kinh. Có mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm và nhóm tuổi (p=0,022), tình trạng hôn nhân (p=0,001) sử dụng thuốc điều trị (p=0,002), chất lượng giấc ngủ (p=0,001). Những người phụ nữ lớn hơn 55 tuổi, không sống cùng chồng, có chất lượng giấc ngủ kém có tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao hơn nhóm phụ nữ không có các yếu tố này.

ntptuong
Theo Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 23, số 5/2019
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->