Ảnh minh họa: Internet
Cây Bù dẻ tía, tên khoa học Uvaria grandiflora Roxb. ex Hornem, thuộc chi Bù dẻ (Uvaria), họ Na (Annonaceae), phân bố rộng rãi ở một số quốc gia khu vực Đông Nam châu Á, bao gồm Ấn Độ, Mianmar, Trung Quốc, Xrilanka, Malaysia, Indonesia và Việt Nam. Ở Việt Nam, Bù dẻ tía mọc rải rác trong rừng thứ sinh, phân bố tự nhiên ở Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa và Đồng Nai. Theo kinh nghiệm dân gian, ở Malaysia, lá cây Bù dẻ tía được nấu uống để điều trị đau thắt lưng, đau dạ dày, đầy hơi, làm dịu đau bụng và hỗ trợ trong phục hồi cho phụ nữ sau sinh. Ngoài ra lá và thân loài cây này còn được dùng để điều trị bong gân, thấp khớp, giải độc ngộ độc thực phẩm, ong chích… Ở Việt Nam, cây Bù dẻ tía được đồng bào dân tộc Pako Vân Kiều ở Quảng Trị sử dụng để chữa các bệnh về gan, mật và các bệnh liên quan đến khối u cho thấy hiệu quả tốt.
Có nhiều bằng chứng cho thấy các gốc tự do là nguyên nhân quan trọng gây nên một số bệnh mãn tính và thoái hóa như xơ vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ, ung thư, tiểu đường, các bệnh về gan mật và lão hóa. Hợp chất có tác dụng chống oxy hoá thường có khả năng dập tắt các gốc tự do, mang lại nhiều lợi ích tốt cho cơ thể như bảo vệ sự toàn vẹn của tế bào, ngăn ngừa một số tai biến, làm chậm quá trình lão hoá cơ thể, bảo vệ chức năng gan, hạn chế các tác nhân gây viêm... Việc nghiên cứu tìm kiếm các dược liệu có tác dụng chống oxy hoá là cần thiết trong nỗ lực tìm kiếm các loại thuốc và sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên phục vụ công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Hiện nay, việc tìm kiếm các dược liệu có khả năng chống oxy hóa nhằm ngăn chặn các bệnh gây ra do tác nhân oxy hóa là hướng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy cao chiết toàn phần của Bù dẻ tía có tác dụng chống oxy hóa trung bình. Trên mô hình quét gốc tự do 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH), cao chiết toàn phần của phần trên mặt đất thể hiện tác dụng chống oxy hóa với IC50 là 88,49 µg/ml. Nghiên cứu của Noushin và cộng sự cho thấy, khả năng dập tắt gốc tự do DPPH của cao chiết ethanol từ lá của Bù dẻ tía thu hái tại Malaysia ở nồng độ 50 µg/ml là 65,41%. Sự khác nhau này có thể do vị trí địa lý của cây trồng khác nhau, mặt khác bộ phận dùng của hai nghiên cứu cũng khác nhau. Khi tiến hành sàng lọc trên các phân đoạn cao chiết của bù dẻ tía thu hái tại Việt Nam, kết quả cho thấy phân đoạn ethyl acetat có hoạt tính quét gốc tự do (DPPH) in vitro mạnh nhất. Điều này có thể giải thích do trong phân đoạn này chứa nhiều các hợp chất phenolic như flavonoid.
Qua nghiên cứu cho thấy, về tác dụng chống oxy hóa trên hệ (DPPH): cao chiết toàn phần và cao chiết phân đoạn ethyl acetat của dược liệu bù dẻ tía có tác dụng chống oxy hóa ở mức trung bình với giá trị IC50 lần lượt là 88,49 µg/ ml và 65,57 µg/ml. Về độc tính cấp: cao chiết toàn phần cây Bù dẻ tía không thể hiện độc tính cấp ở liều 10000 mg/kg thể trọng chuột, chưa xác định được giá trị LD50. |