Ảnh minh họa: Internet
Cây Gừng có tên khoa học Zingiber officinale (Willd.) Roscoe, thuộc họ Gừng - Zingiberaceae. Loài cây thảo dược này được trồng từ rất lâu đời ở Việt Nam, khắp các địa phương từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng. Gừng không chỉ được sử dụng như một loại gia vị thông dụng mà còn là một loại thuốc quý với nhiều công dụng khác nhau. Gừng đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để điều trị cảm lạnh, sốt, rối loạn tiêu hóa, đầy hơi khó tiêu, có tác dụng giảm đau, chống nôn, chống tiêu chảy... Ngày nay, tinh dầu gừng được sử dụng rộng rãi trong chế biến thực phẩm và dược phẩm vì có tác dụng chống say tàu xe, chống nôn, trị đau bụng, khó tiêu, tiêu chảy... Một số nghiên cứu dược lý cho thấy tinh dầu gừng còn có khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế tế bào ung thư. Cho đến nay, ở nước ta chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh nào về quy trình chiết xuất, thành phần hóa học cũng như tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế.
Tinh dầu Gừng thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trên 2 chủng vi khuẩn B. subtilis và S. aureus ở các mức độ khác nhau và giá trị MIC được xác định là 43,8 mg/ml (tương ứng với nồng độ 5%) đối với cả 2 chủng vi khuẩn này. Trong đó, tinh dầu Gừng ở nồng độ 20% có tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất trên B. subtilis (18,6 mm), tác dụng yếu hơn trên chủng S. aureus (15,2 mm). So sánh với chứng dương Gentamycin ở nồng độ 0,4 mg/ml, tinh dầu Gừng ở nồng độ 20% có tác dụng tương đương với Gentamycin trên chủng B. subtilis, tác dụng yếu hơn trên chủng S. aureus. Tinh dầu Gừng ở nồng độ 100% có tác dụng kháng khuẩn tương đương với Gentamycin trên chủng S. aureus (18,7 mm so với 19,0 mm). Tác dụng của tinh dầu Gừng trên E. coli rất yếu nên không được ghi nhận. Trên chủng P. aeruginosa, tinh dầu Gừng không có tác dụng kháng khuẩn.
So sánh với kết quả nghiên cứu của Krittika Norajit và cộng sự, mẫu tinh dầu Gừng được thu hái ở Thái Lan cũng có khả năng ức chế các chủng vi khuẩn B. subtilis và S. aureus, đồng thời không có khả năng ức chế chủng E. coli. So sánh với kết quả nghiên cứu của Angel Konakchiev và cộng sự, P. aeruginosa cũng đề kháng với tinh dầu Gừng cũng được thu hái ở Việt Nam. Về giá trị MIC, so sánh với kết quả của Krittika Norajit và cộng sự cho thấy trên chủng B. subtilis và S. aureus mẫu tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế có giá trị cao hơn (B. subtilis: 43,8 mg/ml so với 6,3 mg/ml; S. aureus: 43,8 mg/ml so với 12,5 mg/ml).
Như vậy, kết quả nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu Gừng thu hái ở Thừa Thiên Huế nhìn chung hoàn toàn phù hợp với kết quả của các công bố trước đó. Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần xác định thành phần hóa học và tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế, đồng thời mở ra bước đầu cho các nghiên cứu sâu hơn để có thể ứng dụng loại tinh dầu này vào việc tạo ra các sản phẩm hoặc dược phẩm hỗ trợ điều trị bệnh cho con người.
Nghiên cứu đã góp phần xác định một số điều kiện tối ưu của quy trình chiết xuất, thành phần hóa học và tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế. Kết quả của nghiên cứu là báo cáo đầu tiên về thành phần hóa học và hoạt tính kháng khuẩn của mẫu tinh dầu này ở Thừa Thiên Huế. Theo đó, nguyên liệu được xay thành dạng bột nửa mịn, chiết xuất trong thời gian 3 giờ, tỷ lệ dung môi - nguyên liệu 3:1, với nguyên liệu trong vòng 10 ngày kể từ khi thu hoạch về. Tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế gồm 16 thành phần hóa học đã được định danh, trong đó thành phần chính là Alpha-zingerberene. Hàm lượng của thành phần chính này trong mẫu tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế cao hơn so với báo cáo trong các nghiên cứu trước đây đối với mẫu tinh dầu Gừng tại Ấn Độ. Về hoạt tính kháng khuẩn, mẫu Tinh dầu Gừng ở Thừa Thiên Huế cho thấy sự tương đồng so với các nghiên cứu trước đây, cụ thể là đã thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trên 2 chủng vi khuẩn S. aureus và B. subtilis với giá trị MIC 43,8 mg/ml, trong đó hoạt tính mạnh nhất được thể hiện trên chủng B. subtilis. |