Ảnh minh họa: Internet
Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, việc bảo tồn răng bằng điều trị nội nha thay cho nhổ răng là hết sức quan trọng, đảm bảo thẩm mĩ, ăn nhai, tạo lập khớp cắn, kích thích sự phát triển của xương hàm.
Điều trị nội nha trải qua nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn cuối cùng là trám bít ống tủy. Nó đóng vai trò quan trọng trong điều trị nội nha, giúp ngăn chặn các vi nứt và sự xâm nhập của dịch quanh chóp răng vào hệ thống ống tủy, ngăn cản sự tái viêm nhiễm và thiết lập môi trường vi sinh thuận lợi cho quá trình phục hồi các thương tổn. Để đạt được điều này, việc trám bít phải đạt được theo 3 chiều của hệ thống ống tủy.
Sự hiện diện vi kẽ vùng chóp không những phản ánh kĩ thuật, phương pháp điều trị nội nha mà còn nói lên hiệu quả của các vật liệu trám bít ống tủy. Vật liệu trám bít ống tủy thường được sử dụng là Gutta percha. Tuy nhiên, nó không thể tạo được gắn kết hiệu quả với ngà răng của thành ống tủy, vì vậy phải sử dụng kết hợp với xi măng nội nha.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả trám bít ống tủy của các xi măng nội nha trong các phương pháp trám bít ống tủy khác nhau. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hiệu quả trám bít ống tủy của các xi măng nội nha và các phương pháp trám bít ống tủy không nhiều.
Trám bít ống tủy theo không gian ba chiều là một trong những mục tiêu chính của điều trị nội nha để ngăn ngừa sự tái nhiễm khuẩn và đảm bảo duy trì vùng mô quanh chóp khỏe mạnh. Với mục đích như vậy, nhiều xi măng nội nha đã ra đời và ngày càng phát triển; và việc đánh giá hiệu quả trám bít ống tủy của các xi măng này với các phương pháp trám bít khác nhau là vô cùng quan trọng, giúp cho các nhà lâm sàng lựa chọn cách thức điều trị, mang lại hiệu quả tốt nhất cho bệnh nhân. Vì vậy, các nghiên cứu về vi kẽ là hết sức hữu ích để có cơ sở cho điều trị nội nha được hoàn hảo nhất.
Tuy nhiên, đánh giá vi kẽ là một chủ đề phức tạp vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự xâm nhập, ví dụ như kĩ thuật trám bít ống tủy, tính chất vật lý, hóa học của xi măng, sự có hay không lớp mùn ngà. Có nhiều phương pháp khác nhau đã được sử dụng để đánh giá khả năng bít kín của hệ thống ống tủy. Trong đó, phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm là đơn giản, nhanh chóng và dễ thực hiện. Đặc biệt, khi sử dụng kĩ thuật làm trong suốt răng, răng được quan sát theo 3 chiều của hệ thống ống tủy mà không làm mất chất, dễ dàng cho việc quan sát vi kẽ. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng răng cối nhỏ hàm dưới vì các răng này có chân răng thẳng và một ống tủy có hình tròn hay oval, giúp cho việc tiêu chuẩn hóa và loại bỏ các yếu tố nhiễu. Mặt khác, việc thu thập răng cối nhỏ hàm dưới đã nhổ dễ dàng do răng này thường có chỉ định nhổ trong các trường hợp chỉnh hình răng.
Cortisomol, AH Plus, Apexit Plus có hiệu quả tương tự nhau trong việc ngăn ngừa vi kẽ. Tương tự, phương pháp một côn hay lèn dọc cũng có hiệu quả tương tự nhau trong việc trám ống tủy bít kín theo 3 chiều của hệ thống ống tủy. |