Ảnh minh họa: Internet
Helicobacter pylori là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra ung thư dạ dày ở các bệnh nhân viêm dạ dày mạn. Điều trị tiệt trừ H. pylori là biện pháp chủ động nhất giúp dự phòng ung thư dạ dày, tuy nhiên hiệu quả ngày càng thấp do tình trạng H. pylori đề kháng kháng sinh tăng ở trên thế giới, trong nước và ở miền Trung Việt Nam. Phác đồ 4 thuốc có bismuth được chứng minh là một trong các phác đồ không nhiều còn có hiệu quả tiệt trừ H pylori khá cao ở nước ta. Tuy nhiên một vài nghiên cứu sơ bộ bắt đầu báo cáo tình trạng đề kháng Tetracycline có xu hướng tăng cao, ngoài ra tác dụng phụ khi phối hợp Tetracycline và Metronidazole cũng là một hạn chế của phác đồ. Một số nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy khi thay thế tetracycline bằng amoxicilin, một thuốc rất ít bị H. pylori kháng thuốc, cho thấy có thể tăng tỷ lệ điều trị và tăng tỷ lệ dung nạp. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về phác đồ này. Nghiên cứu này nhằm bước đầu đánh giá tỷ lệ tiệt trừ H. pylori bằng phác đồ 4 thuốc có bismuth cải tiến: RBMA 14 ngày và các tác dụng phụ, tỷ lệ tuân thủ và các tác dụng ngoại ý trên nhóm bệnh nhân viêm dạ dày mạn ở Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.
Việc điều trị tiệt trừ H. pylori hiện nay ở nước ta gặp rất nhiều thách thức, về tỷ lệ dung nạp, tác dụng phụ, chất lượng thuốc.. nhưng quan trọng nhất vẫn là tình trạng H. pylori đề kháng kháng sinh. Các nghiên cứu gần đây ở nước ta nói chung và ở miền Trung nói riêng cho thấy một sự gia tăng đề kháng kháng sinh của H. pylori, nhất là kháng clarithromycin, levofloxacin và metronidazole. Các đồng thuận của Masstricht 2016, Toronto 2016 và cả ACG 2017 đều thống nhất về vai trò của phác đồ 4 thuốc có bismuth trong tiệt trừ H. pylori ở vùng đề kháng clatrithromycin nói riêng và đa đề kháng nói chung.
Muối Bismuth có tác dụng diệt khuẩn H.pylori bằng nhiều cách: hình thành phức hợp trong thành vi khuẩn và khoang ngoài bào tương (periplasmic space) và bằng cách bám dính vi khuẩn vào niêm mạc dạ dày. Bismuth cũng giúp liền sẹo bằng cách gia tăng yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày như prostaglandin, yếu tố tăng trưởng biểu bì, và tăng tiết bicarbonate. Hầu hết nghiên cứu đều ghi nhận bismuth là một trong số rất ít kháng khuẩn ít bị đề kháng nhất. Ngoài ra, Bismuth có tác dụng hiệp đồng cọng hay thậm chí hiệp đồng tăng cường với một số kháng sinh, tác dụng này không hề bị ảnh hưởng bởi tình trạng đề kháng kháng sinh.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đều cho thấy hiệu quả tiệt trừ quả phác đồ 4 thuốc có Bismuth còn khá cao, không chỉ ở nhóm bệnh nhân chưa điều trị mà còn ở nhóm bệnh nhân đã thất bại điều trị. Tuy nhiên, phác đồ này đang bộc lộ một số hạn chế: tác dụng phụ, nguy cơ giảm hiệu quả khi tình trạng đề kháng tetracycline gia tăng, sự không sẵn có của các chế phẩm bismuth…
Phác đồ bốn thuốc có bismuth cải tiến, trong đó, amoxicillin thay cho tetracyclin, bước đầu tỏ ra là một phác đồ có tỷ lệ tiệt trừ khá cao, tương đương phác đồ 4 thuốc cổ điển, ở các bệnh nhân viêm dạ dày mạn có H. pylori và chưa điều trị lần nào. Phác đồ bốn thuốc có bismuth cải tiến có tỷ lệ tuân thủ cao và ít tác dụng ngoại ý hơn phác đồ 4 thuốc cổ điển. Cần có thêm nhiều nghiên cứu ở nước ta ở các vùng dịch tễ khác nhau và trên các đối tượng đã thất bại điều trị Helicobacter pylori. |