Ảnh minh họa.
Bệnh sốt xuất huyết hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu, nên việc phòng chống chủ yếu diệt véc tơ truyền bệnh là chính. Phương pháp sử dụng Sumilarv 0,5g, gây ức chế các giai đoạn phát triển của bọ gậy/quăng Aedes trong các loại dụng cụ chứa nước nhằm làm giảm sự phát triển của quần thể muỗi trưởng thành và hạn chế sự lây lan tại cộng đồng.
Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Sumilarv 0,5g ở thực địa trong phòng chống véc tơ lây truyền sốt xuất huyết dengue, Zika và Chikungunya.
Nghiên cứu can thiệp thực địa có đối chứng trước sau, đối tượng nghiên cứu là (muỗi, bọ gậy Aedes, hộ gia đình và sản phẩm Sumilarv 0,5g). Cỡ mẫu thực hiện: 300 hộ gia đình/điểm. Điểm can thiệp (thả hóa chất Sumilavr 0,5g): Thôn Phú Ân Nam 1, Phú Ân Nam 2 và thôn Phú Ân Nam 3 thuộc xã Diên An huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Điểm chứng (Không thả hóa chất Sumilavr 0,5g): Phú Ân Nam 4, Phú Ân Nam 5 và thôn Võ kiện. Tiêu chí chọn điểm can thiệp và điểm chứng, có các đặc điểm tương đồng về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. Dụng cụ chứa nước tương đồng, phù hợp theo yêu cầu để thả hóa chất Sumilarv 0,5g. Có bệnh nhân mắc sốt xuất huyết cao so với các xã khác trong huyện. Có sự lưu hành của muỗi Aedes tại địa bàn, đội ngũ cán bộ y tế nhiệt tình, có đủ năng lực đáp ứng các hoạt động của nghiên cứu. Cỡ mẫu theo tính toán là 91 hộ gia đình được điều tra cho mỗi nhóm, vì chọn mẫu cụm nên số hộ gia đình điều tra véc tơ là: 91*3 (hệ số thiết kế) = 273 hộ (với đơn vị cụm là thôn). Làm tròn sẽ điều tra 300 hộ gia đình. Như vậy, mỗi thôn sẽ tiến hành điều tra thu thu thập muỗi và bọ gậy tại 100 hộ gia đình. Kỹ thuật chọn mẫu. Bước 1, chọn có chủ đích 3 thôn (Phú Ân Nam 1, Phú Ân Nam 2 và Phú Ân Nam 3), tại điểm đối chứng cũng chọn 3 thôn (Phú Ân Nam 4, Phú Ân Nam 5 và thôn Võ Kiện) có điều kiện và các dụng cụ chứa nước tương đồng như nhau, thuộc xã Diên An huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa. Bước 2, lập danh sách toàn bộ hộ gia đình tại các thôn được chọn. Bước 3, chọn ngẫu nhiên 100 hộ gia đình/thôn, tương đương (300 hộ/điểm) để thu thập toàn bộ muỗi và bọ gậy (số hộ được chọn dùng để điều tra đánh giá định kỳ về hiệu quả can thiệp). Phân tích số liệu và viết báo cáo Số liệu được làm sạch, nhập liệu bằng phần mềm Epidta. Kết quả được trình bày dưới dạng các bảng, biểu đồ thích hợp và phân tích bằng phần mềm thống kê R, sử dụng các kiểm định Chi bình phương Pearson, T-test và Kiểm định phi tham số Mann-Whytney để đánh giá hiệu quả trước sau can thiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ bọ gậy và quăng chết 95% - 100% sau 15 ngày tiếp xúc với Sumilarv, hiệu quả này duy trì được 4 đến 5 tháng ở những dụng cụ chứa nước có bọ gậy trong nhà (lọ hoa) và 2 đến 3 tháng ở những dụng cụ chứa nước ngoài nhà (lốp xe, chậu cảnh, phế thải khó súc rửa…). Các chỉ số sau can thiệp: DI = 0,11 so với trước can thiệp 0,48; HI = 9% so với trước can thiệp32%; HIL = 5% so với trước can thiệp 45% và BI = 6 so với trước can thiệp 110. Với chế phẩm Sumilarv 0,5g, sử dụng nồng độ từ 0,01- 0,05mg/l cho thấy tỉ lệ tiêu diệt bọ gậy 95- 100% sau hai tuần tiếp xúc là rất hiệu quả. Kết quả này cần được áp dụng rộng rãi với những địa phương có sử dụng các dụng cụ như: Lọ hoa, chậu cây cảnh, lốp xe, phế thải khó súc rửa. |