Ảnh minh họa.
Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho thấy tỷ lệ người phá thai ở tuổi vị thành niên đang ở mức báo động với 300.000 ca nạo phá thai mỗi năm trong độ tuổi 15-19 tuổi. Nguyên nhân là do kiến thức, thực hành về sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) của vị thành niên còn hạn chế.
Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ học sinh Trung học phổ thông (THPT) tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang có kiến thức chung đúng về tránh thai và kiến thức về các BPTT thông thường; tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức về các BPTT thông thường của học sinh.
Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 472 học sinh các khối lớp 10, 11, 12 trên địa bàn huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018. Huyện Tân Phú Đông có 02 trường THPT, tiến hành phân bố mẫu cho mỗi trường là 240 học sinh, trong đó chia đều cho các khối lớp 10, 11, 12 mỗi khối lớp 80 em. Lập danh sách học sinh mỗi khối lớp, chọn ngẫu nhiên hệ thống bằng cách chọn một điểm xuất phát trên danh sách rồi khoanh tròn vào số thứ tự trên danh sách lớp theo hệ số k = 8 để chọn ra 80 em mỗi khối lớp/trường (mỗi trường 240 em) rồi khảo sát bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, thực tế mẫu thu được 472 học sinh. Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và phân tích bằng phần mềm Stata 14, xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức về sử dụng BPTT bằng kiểm định chi bình phương (hoặc kiểm định Fisher). Mức độ kết hợp được đo lường bằng chỉ số PR (Prevalence Ration - Tỷ số tỷ lệ hiện mắc) với ước lượng khoảng tin cậy (KTC) 95%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, kiến thức chung đúng về BPTT là 15,04%; kiến thức đúng về các biện pháp tránh thai khẩn cấp (BPTTKC) của đối tượng chỉ đạt 6,57%; kiến thức đúng về các biện pháp tránh thai bao cao su (BPTTBCS) chỉ đạt 14,19%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (P<0,05) gồm liên quan giữa giới tính với kiến thức chung về BPTT và kiến thức BPTTBCS; liên quan giữa tuổi với kiến thức BPTTKC và kiến thức BPTTBCS; liên quan giữa hoàn cảnh kinh tế với các nhóm kiến thức chung về BPTT, BPTTKC, BPTTBCS; liên quan giữa nơi ở với kiến thức BPTTKC và kiến thức BPTTBCS; liên quan giữa tình trạng đã hoặc đang/không có người yêu với kiến thức về BPTTKC và kiến thức BPTTBCS. Tỉ lệ học sinh có kiến thức các BPTT chưa cao. Cần tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông cho học sinh nhận thức đầy đủ về các biện pháp tránh thai. Cung cấp thông tin, tư hướng dẫn cho cha mẹ học sinh về BPTT. Khai thác ưu thế mạng xã hội trong tư vấn tâm lý, sức khỏe sinh sản, tình yêu tình dục để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về các biện pháp tránh thai cho học sinh. |