Hình minh họa (Nguồn: internet)
Chi Sargassum (Fucales, Phaeophycea) thường phân bố phổ biến ở những vùng trũng hoặc bãi triều thuộc vùng biển nhiệt đới. Các loài Sargassum phát triển thường tạo ra các thảm rộng trên các nền đá, là những vườn ươm quan trọng và cần thiết cho các loài cá con. Một số loài rong thuộc chi Sargassum được dùng làm vật liệu để ly trích các chất có khả năng kháng khuẩn, chất chống oxy hóa và hoạt động chống lipase như polysaccharide, carotenoid, polyphenol và lipid.
Sargassum là một chi thuộc ngành rong nâu có giá trị rất lớn trong ngành kinh tế do thành tế bào của các loài Sargassum có chứa chất alginate. Chất alginate này có rất nhiều ứng dụng, đặc biệt là trong ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm vì chất này bản chất là một chất gel, chất làm đặc và chất ổn định.
Một số loài rong mơ thuộc chi Sargassum có giá trị kinh tế cao nhưng chưa có đánh giá hoặc báo cáo về phân bố và các thành phần loài ở ven đảo Phú Quốc, Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu này là cung cấp thông tin cơ bản về hiện trạng phân bố và thành phần loài rong mơ thuộc chi Sargassum ở đảo Phú Quốc.
Áp dụng Phương pháp quadrat để thu mẫu, lấy mẫu phân tích phân loại, đánh giá đa dạng loài và đánh giá chỉ số tương đồng thành phần loài. Chín trong 13 địa điểm nghiên cứu có hiện diện của 15 loài: S. henslowianum, S. muticum, S. binderi, S. fusiforme, S. pallidum, Sargassum sp., S. swartzii, S. hemiphyllum, S. ilicifolium, S. ecuadoreanum, S. brachyphyllum, S. polycystum, S. cinereum, S. siliquosum và S. wightii. Chỉ số đa dạng sinh học (H’) của các loài thuộc chi Sargassum ở mức cao với chỉ số biến động từ 0,693 đến 1,380. Hai loài S. polycystum và S. brachyphyllum có tần số xuất hiện đồng thời cùng nhau cao nhất 99,6%. Trong khi đó, chỉ số tương đồng thành phần loài (J’) của các loài này tương đối ở mức cao từ 0,985 đến 1,000. Từ đó, cần có quy hoạch phù hợp nhằm bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên rong mơ Sargarrum ở biển tại Phú Quốc. |