Nghiên cứu
[ Đăng ngày (26/02/2020) ]
|
|
Vai trò của nồng độ β-HCG sau hút nạo 2 tuần trong tiên đoán tân sinh nguyên bào nuôi hậu thai trứng
|
|
|
Nghiên cứu do nhóm tác giả Lê Xuân Tiên – Bộ mô Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Lê Tự Phương Chi - Khoa Ung bướu Phụ khoa BV Từ Dũ, PGS TS BS. Võ Minh Tuấn thực hiện.
|
Ảnh minh họa.
Thai trứng (TT) là một dạng bệnh lý nguyên bào nuôi liên quan đến thai kì. Tần suất thay đổi tùy thuộc từng vùng lãnh thổ, tập quán ăn uống, điều kiện kinh tế xã hội, thấp ở vùng châu Âu và Bắc Mỹ (1,2/1000 thai kỳ), cao ở khu vực châu Á (VN: 1,52/500 thai kì. Điều trị thai trứng chủ yếu là hút nạo (HN) buồng tử cung, sau đó là theo dõi diễn tiến βhCG và các triệu chứng bất thường đi kèm. Trong quá trình theo dõi biến chứng đáng quan tâm nhất là tân sinh nguyên bào nuôi (TSNBN), với một tỷ lệ xuất hiện đáng kể: 15-28% đối với thai trứng toàn phần và 1-5% đối với thai trứng bán phần. Đây là biến chứng ác tính, nguy hiểm, có thể di căn, điều trị lâu dài và tốn kém. Một số nghiên cứu (NC) cố gắng tìm ra những yếu tố giúp tiên đoán TSNBN hậu thai trứng hay bệnh thoái lui để tư vấn bệnh nhân tốt hơn và giúp các nhà lâm sàng lưu ý đến những nguy cơ này để rút ngắn khoảng thời gian từ lúc chẩn đoán thai trứng đến TSNBN. Kết quả các yếu tố như tuổi mẹ, kích thước nang hoàng thể > 6cm, tiền sử thai trứng trước đó có giá trị tiên đoán “yếu” TSNBN hậu thai trứng. Gần đây, bắt đầu có những nghiên cứu nước ngoài về khả năng pháthiện TSNBN dựa vào nồng độ βhCG sau hút nạo và thấy rằng kiểu thay đổi nồng độ βhCG của TSNBN khác với bệnh thai trứng thoái lui. Tại Bệnh viện Từ Dũ, năm 2016 có 1.100 ca thai trứng, trong đó có 228 ca chuyển sang TSNBN.
Nghiên cứu bệnh chứng lồng trên bệnh nhân thai trứng nhập bệnh viện Từ Dũ từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 12 năm 2017. Bệnh nhân được phân làm 2 nhóm từ việc lấy toàn bộ 123 ca tân sinh nguyên bào nuôi (TSNBN) (nhóm bệnh) và ngẫu nhiên 247 ca thai trứng lui bệnh tự nhiên (nhóm chứng). Đường cong ROC được sử dụng để tìm yếu tố có giá trị tiên đoán tốt nhất.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian trung bình chẩn đoán TSNBN theo FIGO 2002 là 6,2 tuần. Điểm cắt lí tưởng của β-hCG sau hút nạo 2 tuần và 4 tuần tiên đoán TSNBN tương ứng là 700 mIU/mL (độ nhạy: 79%; độ chuyên: 69%) và 148 mIU/mL (độ nhạy: 83%; độ chuyên: 84%). Điểm cắt lí tưởng của tỷ số βhCG trướcsau hút nạo 2 tuần và 4 tuần tiên đoán TSNBN tương ứng là 340 (độ nhạy: 77%; độ chuyên: 64%) và 1345 (độ nhạy: 79%; độ chuyên: 84%). Nồng độ β-hCG sau hút nạo 2 tuần là yếu tố có giá trị tiên đoán sớm tốt cho nguy cơ chuyển qua TSNBN của bệnh nhân thai trứng. |
ntptuong
Theo Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 23, số 2/2019 |