Nghiên cứu [ Đăng ngày (16/01/2020) ]
Đặc điểm sóng tổn thương và mối liên quan với các thông số tạo nhịp ở bệnh nhân cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn qua theo dõi ngắn hạn
Nghiên cứu do đồng tác giả Lê Mạnh - Khoa Tim mạch, Bệnh viện 198, Trần Song Giang - Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai thực hiện.

Ảnh minh họa.

Ngưỡng tạo nhịp (NTN) là một trong các thông số vô cùng quan trọng đối với quá trình hoạt động tạo nhịp, là cơ sở cho việc lập trình các thông số của máy trong lúc cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn. Khi cố định dây ĐC vào cơ tim có nhiều nguyên nhân làm tăng NTN tại thời điểm đó như: cơ tim tổn thương do nhồi máu cấp tính, sẹo, xơ hóa cơ tim, tăng đường máu, tổn thương cơ tim tại vị trí cố định.... Khi đó ta phải thay đổi lại vị trí cố định điện cực, cũng có trường hợp không tìm được vị trí cố định với NTN đạt tiêu chuẩn. Trong các nguyên nhân kể trên có nguyên nhân chỉ làm tăng NTN tạm thời trong vòng vài phút đó là tổn thương mô cơ tim tại vị trí cố định. Việc cố định đầu dây điện cực vào cơ tim bằng đầu xoắn ốc gây tổn thương cơ tim mô cơ tim ngay tại vị trí cố định và làm biến đổi điện đồ trong buồng tim tạo thành dạng sóng gọi là sóng tổn thương (Curent of injury – COI).

Nghiên cứu đặc điểm của sóng tổn thương trong và ngay sau cố định điện cực (ĐC) ở bệnh nhân cấy máy tạo nhịp (MTN). Tìm hiểu mối liên quan của sóng tổn thương (COI) với các thông số tạo nhịp cơ bản và việc cố định ĐC qua theo dõi ngắn hạn.

Nghiên cứu 73 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn nhịp chậm có triệu chứng được cấy MTN vĩnh viễn từ tháng 7 năm 2018 tới tháng 3 năm 2019 và được theo dõi trong vòng 3 tháng kể từ ngày cấy MTN vĩnh viễn. Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm có (COI) và không COI. Các bệnh nhân đưa vào nghiên cứu được đo sóng tổn thương bao gồm STe, IEd trước xoáy điện cực, sau xoáy điện cực, 5 phút sau xoáy, 10 phút sau xoáy. Ngưỡng tạo nhịp (NTN), trở kháng, độ nhận cảm sóng P, sóng R được theo dõi trong thời gian ngắn hạn. Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 xử lý các thuật toán thống kê.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có tất cả 123 dây ĐC cả thất và nhĩ, trong đó có 103 dây ĐC có COI. Với ĐC thất có COI: IEd trong buồng tim thay đổi trước xoáy 145.92±14.92 tăng lên ngay sau xoáy và giảm xuống sau 10 phút 137.14±17.45 (p < 0.001) và STe cũng tăng từ trước xoáy 5.81±1.40 lên 10.52±3.36 ngay sau xoáy và giảm xuống sau 10 phút 4.84±1.15 (p <0.001). NTN thất cũng thay đổi theo hướng tích cực ngay sau xoáy 0.89±0.15 giảm xuống 0.59±0.14 sau đó 10p (p>< 0.001) và sau theo dõi 3 tháng là: 0.62±0.13 (p<0.001) Kết quả cũng xảy ra tương tự với dây ĐC nhĩ có COI. Có 3 điện cực nhĩ ở nhóm không có COI nhĩ bị tuột qua theo dõi ngắn hạn. COI sẽ thay đổi từ trước khi xoáy điện cực vào buồng tim, tăng lên ngay sau khi xoáy,giảm dần sau xoáy 5 phút và 10 phút sau xoáy. NTN tim sẽ giảm xuống đạt kết quả tốt hoặc chấp nhận được ở nhóm có COI ngay cả khi ngưỡng tạo nhịp tim tại thời điểm ngay sau xoáy điện cực tăng cao. Qua theo dõi ngắn hạn các thông số tạo nhịp NTN tim, trở kháng, độ nhận cảm sóng P, sóng R ở nhóm có COI đều ổn định. Việc không có COI khi cố định điện cực có thể là sự chỉ điểm cho sự không chắc chắn cho việc cố định dây điện cực.

Tạp chí tim mạch Việt Nam số 90/2019 (ctngoc)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này