Ảnh minh họa.
Bệnh mạch vành, đặc biệt nhồi máu cơ tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Mỹ và các nước Châu Âu, đang có xu hướng ngày càng tăng lên ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Chụp và đặt stent ĐMV qua da là một phương pháp can thiệp xâm lấn phải dùng thuốc cản quang (TCQ) để thấy rõ tổn thương và dẫn đường cho can thiệp. Tuy nhiên một biến chứng hay gặp sau PCI làm tăng tỷ lệ tử vong, tăng thời gian và chi phí nằm viện đó là CI-AKI. CI-AKI là tình trạng rối loạn chức năng thận sau tiêm TCQ mà không có nguyên nhân nào khác. Đây là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 trong số các nguyên nhân gây tổn thương thận cấp ở nhóm bệnh nhân nằm viện (sau giảm tưới máu thận và thuốc điều trị độc với thận) và là nguyên nhân suy thận mắc phải trong viện thường gặp nhất. Bệnh thường xảy ra trên những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ như tuổi cao, tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, suy thận mạn…hầu hết các yếu tố này là không thể thay đổi. Với chiến lược dự phòng CI-AKI đã được chứng minh có hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng tiến triển của bệnh, chúng ta cần xác định các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được để góp phần khắc phục tình trạng trên. Một trong các yếu tố nguy cơ có thể tác động được làm giảm tỷ lệ mắc bệnh là tình trạng thiếu máu. Một số nghiên cứu đã chứng minh thiếu máu có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ mắc CI-AKI. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Hiện chưa có một nghiên cứu nào ở nước ta khảo sát một cách chi tiết đầy đủ về mối liên quan này.
Bệnh thận do thuốc cản quang (CI-AKI) sau can thiệp động mạch vành qua da (PCI) có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong. Mối liên quan giữa mức độ nghiêm trong của thiếu máu và CI-AKI sau PCI chưa được quan tâm đúng mức. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhằm mục đích đánh giá mối liên quan của thiếu máu ở các mức độ nghiêm trọng khác nhau với nguy cơ CI-AKI ở bệnh nhân trải qua PCI. Sử dụng phương pháp hồi cứu 312 bệnh nhân (BN) có bệnh lý động mạch vành (ĐMV) được chụp và can thiệp ĐMV qua da từ tháng 8/2018 đến tháng 8/2019. CI-AKI được định nghĩa là tăng creatinin máu ≥0,3mg/dl (26,5µmol/l) so với creatinin nền. Thiếu máu được xác định là hemoglobin ≤130g/l. Bệnh nhân được phân thành 2 nhóm là CI-AKI và NoCI-AKI. Tỷ suất chênh hiệu chỉnh (AOR) được tính toán bằng cách sử dụng phân tích hồi quy logistic đơn biến.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 312 BN tham gia nghiên cứu (nữ chiếm 31,4%, tuổi trung bình 69,95±10,57) trải quan PCI, 56 (17,9%) đã phát triển CI-AKI. Sự hiện diện thiếu máu liên quan đến tăng nguy cơ phát triển CI-AKI [AOR=2,52; 95%CI=1,39-4,75; p=0,002]. Nguy cơ mắc CI-AKI ngày càng tăng so với mức độ nghiêm trọng của thiếu máu: nhẹ (AOR=2,08; 95%CI=1,09-3,99; p=0,027), trung bình (AOR=3,86; 95%CI=1,58-9,41; p=0,003) và nặng (AOR=7,33; 95%CI=1,01–54,86; p=0,050). Kết luận: Mức độ nghiêm trọng của thiếu máu là một yếu tố nguy cơ dự báo CI-AKI ở bệnh nhân trải qua PCI. |