Nghiên cứu
[ Đăng ngày (03/01/2020) ]
|
|
Giá trị của nghiệm pháp kích thích thất sớm ở thời kỳ trơ của bó His trong chẩn đoán phân biệt cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất
|
|
|
Nghiên cứu do nhóm tác giả Phan Thanh Nghĩa - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, Trần Song Giang, Nguyễn Thị Mai Ngọc - Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai thực hiện.
|
Ảnh minh họa.
Triệt đốt cơn NNKPTT bằng năng lượng sóng có tần số radio (RF) đã trở thành thường quy tại các trung tâm tim mạch lớn trên thế giới và Việt Nam. Việc chẩn đoán xác định cơn NNKPTT giúp cho tỷ lệ triệt đốt thành công cao và rút ngắn thời gian làm thủ thuật. Phần lớn các trường hợp, chỉ cần dựa vào phân tích trình tự điện thể nhĩ dẫn truyền ngược trong cơn nhịp nhanh tại các điện đồ trong buồng tim và cách khởi phát và kết thúc cơn nhịp nhanh … là có thể chẩn đoán cơ chế gây cơn là AVNRT, AVRT hay AT. Tuy nhiên, với cơn AVNRT không điển hình, cơn AVRT mà đường DT phụ nằm ở vùng vách thì các tiêu chuẩn trên là không đủ. Nhiều nghiệm pháp KT thất trong cơn nhịp nhanh đã được nghiên cứu trong chẩn đoán phân biệt cơn NNKPTT. Tại Việt Nam NPKT thất sớm ở thời kỳ trơ của bó His để phân biệt cơn NNKPTT chưa được nhắc tới.
Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định giá trị của nghiệm pháp kích thích (KT) thất sớm ở thời kỳ trơ của bó His trong cơn tim nhanh để chẩn đoán phân biệt cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất. Nghiên cứu 75 bệnh nhân (BN) cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất (NNKPTT) được tiến hành thăm dò điện sinh lý tim và triệt đốt thành công bằng năng lượng sóng có tần số Radio (RF) tại Viện Tim mạch Việt Nam. Trong đó có 43 bệnh nhân (chiếm 57.3%) cơn nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất (AVNRT) và 32 bệnh nhân (chiếm 42.7%) cơn nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất (AVRT). Trong cơn nhịp nhanh, chúng tôi tiến hành KT thất sớm ở mỏm thất phải với khoảng ghép ngắn dần (V2). Tại điện đồ vùng cao nhĩ phải (HRA) khoảng điện đồ nhĩ trong cơn nhịp nhanh đến điện đồ nhĩ dẫn truyền (DT) ngược khi KT thất sớm (A1A2) được đo và so sánh với chiều dài chu kỳ cơn nhịp nhanh (A1A1). Chỉ số ∆ AA (∆ AA = A1A1 - A1A2) phản ánh hoạt động nhĩ sớm khi KT thất sớm ở thời kỳ trơ của bó His trong cơn nhịp nhanh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ số ∆AA ở nhóm BN cơn AVRT lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm cơn AVNRT (15.8 ± 12.6 so với 1.2 ± 1.6 với p < 0.05). Đặc biệt, chỉ số ∆ AA ở nhóm AVRT có đường DT phụ vùng vách lớn hơn nhiều và có ý nghĩa thống kê so với nhóm AVNRT thể không điển hình (31.2 ± 13.3 so với 2.2 ± 1.6 với p < 0.05). Như vậy: Nghiệm pháp KT thất sớm ở thời kỳ trơ của bó His trong cơn tim nhanh có giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt cơn AVNRT và cơn AVRT với điểm cắt được chọn là 4.5 ms (AUC: 98.8%, độ nhạy: 93.8%, độ đặc hiệu: 95.3%) và rất có giá trị trong trong chẩn đoán phân biệt cơn AVRT có đường dẫn truyền phụ nằm ở vùng vách và cơn AVNRT thể không điển hình với điểm cắt được lựa chọn là 10 ms (AUC: 100%, độ nhạy và độ đặc hiệu là 100%). Sử dụng KT thất sớm vào thời kỳ trơ của bó His trong cơn tim nhanh rất có giá trị trong chẩn đoán phân biệt cơn AVRT và cơn AVNRT. Đặc biệt trong chẩn đoán phân biệt cơn AVRT có đường dẫn truyền phụ nằm ở vùng vách và cơn AVNRT thể không điển hình. |
Tạp chí tim mạch Việt Nam số 90/2019
|