Ảnh: sưu tầm.
Nguyên nhân gây ra bệnh đái tháo đường type 2 là do sự kháng insulin ở cơ quan đích (gan, cơ vân, mô mỡ) kèm theo suy giảm chức năng tế bào β tụy. Bệnh đái tháo đường type 2 chiếm khoảng từ 90 - 95% trong tổng số bệnh nhân bệnh đái tháo đường và thường gặp ở lứa tuổi trên 40. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do chất lượng đời sống được nâng cao nên bệnh đái tháo đường type 2 xuất hiện ở nhiều lứa tuổi. Năm 2010, trên toàn cầu, số người mắc bệnh đái tháo đường khoảng 258 triệu người và theo dự đoán số lượng này sẽ tăng thêm 1,5 lần (khoảng 439 triệu người) vào năm 2030 (Đỗ Trung Quân, 2001, Sung et al., 2012, Kazuo et al., 2014). Bệnh đái tháo đường (BĐTĐ) thường là nguyên nhân biến chứng của các bệnh hiểm nghèo như: bệnh tim, mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận… Ngày nay, có nhiều loại thuốc điều trị BĐTĐ nhưng đều có tác dụng phụ như buồn nôn, ói mửa, vàng da, ứ mật, mất bạch cầu hạt, thiếu máu… (Khan et al., 1991, Paul et al., 2016). Vì vậy, các nhà khoa học trong và ngoài nước có xu hướng nghiên cứu các hoạt chất sinh học từ thực vật có khả năng điều trị BĐTĐ và không gây ra các tác dụng phụ.
Trên thế giới, lá xoài (Mangifera indica L.) thường được sử dụng để chữa các bệnh như: ho, sốt và trị lành các vết thương (Bbosa, 2007b). Cây xoài được xem là một loại dược liệu quan trọng vì chứa hàm lượng lớn hợp chất hóa học có hoạt tính sinh học như: polyphenol, terpene, polyalcohol, acid béo, đường, ligin… (Rodeiro et al., 2007). Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh cây xoài có khả năng kháng oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống co thắt, điều hòa miễn dịch, kháng viêm, bảo vệ gan, kháng hoạt động của ký sinh trùng và điều trị bệnh đái tháo đường (Garrido et al., 2001, Rodeiro et al., 2007, Shah et al., 2010). Dịch chiết ethanol lá xoài đã được chứng minh có khả năng ức chế enzyme α-amylase (Prashanth et al., 2001a) và enzyme α-glucosidase (IC50 = 314 µg/mL) (Prashanth et al., 2001b). Năm 2007, lá xoài đã được Bbosa et al. (2007) chứng minh có khả năng ức chế hoạt động của vi khuẩn Staphylococus aureus (MIC = 6,25 µg/mL), Escherichia coli (MIC = 50 µg/mL), Clostridium tetani và Pseudomonas aeruginosa (Bbosa et al., 2007a). Thành phần hóa học của lá xoài được xác định gồm: saponin, glucoside, sterol không bão hòa, pholyphenol, acid euxanthin, mangiferin, mangin, galic và tanin. Trong đó, mangiferin là một xanthonoid có nhiều tác dụng sinh học đang được quan tâm như: hoạt tính kháng viêm, chống dị ứng, kháng oxy hóa. Hàm lượng mangiferin trong LXN được chứng minh nhiều khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lá xoài già (P < 0,05) (Ramírez et al., 2016). Năm 2009, dịch chiết từ lá và vỏ thân cây xoài đã được nghiên cứu trên mô hình chuột BĐTĐ type 1 và type 2. Kết quả từ nghiên cứu đã khẳng định dịch chiết có khả năng gây hạ glucose huyết trên chuột BĐTĐ type 2 và không gây ảnh hưởng đến chuột bình thường (Bhowmik et al., 2009).
Mangiferin ly trích từ lá xoài đã được chứng minh có tác dụng điều trị BĐTĐ, ngăn ngừa các biến chứng do bệnh gây ra như tim mạch, giảm lipid máu, giảm LDL_C (cholesterol xấu) và tăng HDL_C (cholesterol tốt) ở chuột BĐTĐ ở nồng độ 10-20 mg/kg trọng lượng sau 14 ngày (Muruganandan et al., 2005, Gururaja et al., 2015). Ngoài ra, mangiferin còn có tác dụng bảo vệ tế bào gan, kháng viêm ở chuột với liều lượng từ 15-30 mg/kg trọng lượng. Nồng độ mangiferin có khá năng gây ra độc tính cấp trên chuột là > 1000 mg/kg trọng lượng/ngày, đây là một hàm lượng có khả năng gây độc rất thấp (Ramírez et al., 2016).
Việt Nam là nước có bề dày lịch sử về sự tồn tại và phát triển của thuốc cổ truyền. Thuốc cổ truyền được người dân tin dùng vì ít tác dụng phụ hơn thuốc hóa dược. Trong lĩnh vực y học cổ truyền, quả xoài (Mangifera indica L.) có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, giải nhiệt, tiêu hóa kém… (Đỗ Tất Lợi, 2011). LXN được sử dụng để điều trị các bệnh về hô hấp trên như: ho, viêm phế quản, tiêu chảy, kiết lị, viêm ngứa da (20-30 g/ngày) (Nguyễn Thượng Dong và ctv., 2003). Ở đồng bằng sông Cửu Long, cây xoài được trồng phổ biến và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình. Tuy nhiên, nguồn thu nhập chính mang lại là từ trái xoài, một lượng lớn lá xoài không được sử dụng. Vì vậy, nếu có thể khai thác nguồn lá xoài một cách hợp lý để ly trích các hợp chất có khả năng điều trị BĐTĐ sẽ nâng cao giá trị và hình thành chuỗi giá trị liên hoàn của cây xoài. Bên cạnh đó, LXN là chế phẩm thiên nhiên đảm bảo được yêu cầu an toàn, rẻ tiền. Với những kết quả nghiên cứu trên, LXN có tiềm năng rất lớn để trở thành nguồn dược liệu quý. Vì vậy, trong nghiên cứu này LXN được nghiên cứu khả năng điều trị BĐTĐ thông qua giá khả năng kháng oxy hóa, kháng stress mạng nội chất ở tế bào tụy tạng.
Khả năng bảo vệ tế bào β tụy tạng khỏi sự phá hủy bởi stress mạng nội chất của dịch trích lá xoài non (Mangifera indica L.) được thực hiện in vitro trên tế bào MIN6. Sự chết của tế bào MIN6 được gây ra do tunicamycin ở nồng độ 5 µg/mL, sau 24 giờ ủ ở điều kiện 37oC và 5% CO2. Khả năng gây độc đối với tế bào MIN6 của dịch trích lá xoài non (LXN) được khảo sát ở nồng độ từ 50 đến 500 µg/mL ở điều kiện ủ 37oC và 5% CO2 trong 48 giờ. Khả năng bảo vệ tế bào MIN6 của dịch trích LXN cũng được khảo sát. Kết quả khảo sát cho thấy, ở các nồng độ khảo sát LXN không gây độc tế bào MIN6 trong 48 giờ. Nồng độ dịch trích LXN có khả năng bảo vệ tế bào MIN6 khỏi sự chết bởi stress mạng nội chất tốt nhất là 500 µg/mL. Bên cạnh đó, thí nghiệm đã chứng minh dịch trích LXN có hiệu quả kháng oxy hóa. Kết quả khảo sát khả năng kháng oxy hóa bằng phương pháp trung hòa gốc tự do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH), khử sắt (RP) và 2, 2'-azinobis-(3- ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid) (ABTS•+) có giá trị EC50 lần lượt là 27,64 ± 0,88; 12,11 ± 1,15 và 45,7± 0,50 µg/mL. Kết quả chứng minh, LXN có tiềm năng hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường theo cơ chế kháng oxy hóa và bảo vệ tế bào β của tụy tạng khỏi sự chết bởi stress mạng nội chất. |