Nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, Cao Văn Hùng, Nguyễn Xuân Toản - Phân viện Nghiên cứu Hải sản phía Nam đã thực hiện điều tra hiện trạng nuôi cá biển lòng bè ở vùng Đông Nam bộ từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2017.
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra, thu mẫu và phỏng vấn 112 hộ tại tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh nuôi cá bằng lòng bè trên biển.
Kết quả phân tích cho thấy, các hộ nuôi đều dựa vào kinh nghiệm nuôi, đa số chưa được tham gia tập huấn kĩ thuật, nguồn cá giống chủ yếu được sản xuất trong nước; kích thước con giống thả 2-20cm/con; thức ăn chủ yếu là thức ăn viên cho giai đoạn dưới 1 tháng nuôi và sử dụng cá tạp cho giai đoạn trên 1 tháng nuôi; không có đo các chỉ tiêu môi trường; tỷ lệ sống cá nuôi đạt từ 51,6-69,3%; một số bệnh thường gặp khi nuôi cá biển lòng bè là bệnh mù mắt, bệnh xuất huyết, bệnh virut; Nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghề nuôi cá lòng bè vùng Đông Nam bộ theo hướng bền vững.
Một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển lòng bè:
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, về chính sách, về quy hoạch, về khoa học – công nghệ và đào tạo.
- Mở rộng quy hoạch nuôi cá biển lồng ở các vùng biển hở và hải đảo ở khu vực ĐNB. Đa dạng hóa loài nuôi.
- Áp dụng công nghệ lồng HDPE chịu được sóng, gió tốt.
- Nâng cao trinh độ nuôi thủy sản của người dân thông qua tập huấn, đào tạo, tham quan mô hình và tiếp nhận công nghệ nuôi mới.
- Có chính sách ưu đãi về vốn (giảm thuế, cho vay lãi suất thấp,...), khuyến khích việc mở rộng vùng nuôi ở các vùng biển đảo.
Kết luận:
- Hình thức nuôi còn thủ công, thức ăn chủ yếu là cá tạp , thức ăn công nghiệp sủ dụng còn ít.
- Hiện trạng nghề nuôi cá biển lồng bè ở vùng Đông Nam Bộ mang tính tự phát theo sự thành công của những hộ nuôi trước, đơn giản, quy mô nhỏ.
- Kỹ thuật nuôi còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và tự phát , tỷ lệ tham gia đào tạo tập huấn thấp.
- Nguồn nhân lực chuyên nuôi biển còn hạn chế. Hạ tầng và dịch vụ chưa đáp ứng.
- Công tác quản lý con giống, thức ăn, thuốc hóa chất và kiểm tra chất lượng hàng hóa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm còn hạn chế. |