Nghiên cứu
[ Đăng ngày (05/03/2019) ]
|
|
Tần suất bất thường huyết sắc tố ở học sinh dân tộc mường và giá trị của các phương pháp sàng lọc bất thường huyết sắc tố
|
|
|
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Thị Duyên, Nguyễn Thanh Bình, Lương Thị Nghiêm và Tống Văn Giáp thực hiện.
|
Ảnh minh họa.
Nghiên cứu một số bất thường huyết sắc tố ở học sinh dân tộc Mường, tỉnh Hòa Bình năm 2014.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần suất bất thường Hb trong nhóm nghiên cứu khá cao, chiếm 15,23%, trong đó chủ yếu là HbE và β-thalassemia. HbE chiếm tỷ lệ cao nhất, 11,66%. Tỷ lệ nam nữ bị bất thường huyết sắc tố tương đương nhau: nam chiếm 45,52% và nữ chiếm 54,58%. Trong từng loại bất thường huyết sắc tố, tỷ lệ nam nữ cũng tương đương. Độ nhạy của xét nghiệm MCV trong phát hiện β-Thalasemia và HbE lần lượt là 98,55% và 82,59%. Độ nhạy của phương pháp đo sức bền thẩm thấu hồng cầu để phát hiện β-Thalasemia là 92,75%, trong phát hiện HbE là 45,09%. Phương pháp DCIP ưu thế trong phát hiện bệnh nhân HbE, với độ nhạy 87,5% trong khi chỉ phát hiện 8,69% bệnh nhân β-Thalasemia. Độ đặc hiệu của MCV, sức bền thẩm thấu hồng cầu, DICP trong phát hiện bất thường huyết sắc tố lần lượt là 49,5%, 42,49% và 79,15. |
vtvanh
Theo Tạp chí nghiên cứu y học, số 5/2018 |