Ảnh minh họa
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang gồm 207 bệnh nhân đang lọc máu chu kỳ tại khoa nội Thận – Tiết niệu – Lọc máu, BV ĐK TP. Cần Thơ.
Kết quả: Tỷ lệ SDD nặng theo SGA_3 đối với bệnh nhân lọc thận nhân tạo (TNT) chu kỳ chiếm 27,8%, giữa nam và nữ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p < 0,05), chỉ số khối cơ thể (BMI) SDD nặng chiếm 2,9% ở bệnh nhân TNT chu kỳ sự khác biệt giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê (với p < 0,05), theo nồng độ albumin HT, SDD nặng chiếm 4,8% ở bệnh nhân TNT chu kỳ, có ý nghĩa thống kê (với p < 0,05) giữa các mức độ SDD và đối với nồng độ prealbumin HT, SDD nặng chiếm 17,9% ở bệnh nhân TNT chu kỳ, có ý nghĩa thống kê (với p < 0,05) giữa các nhóm SDD. Nồng độ nPCR có mối tương quan thuận với nồng độ albumin HT. Trong phân tích hồi quy đa biến nồng độ nPCR có mối tương quan với BMI.
Kết luận: Tỷ lệ SDD nặng theo SGA_3 chiếm 27,8%, có sự khác biệt giữa nam và nữ, SDD nặng theo BMI chiếm 2,9%, SDD nặng theo albumin HT chiếm 4,8% và SDD nặng theo prealbumin HT chiếm 17,9% giữa các phương pháp khác nhau, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05. Nồng độ nPCR có mối tương quan thuận với albumin HT. Trong phân tích hồi quy đa biến nồng độ nPCR có mối tương quan với BMI. |